Sự nghiệp giáo dục là vận mệnh của đất nước, tương lai của dân tộc

Ngày 12-7 vừa qua, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Giáo dục làm việc với gần 100 đại biểu là những nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà quản lý giáo dục, nhà văn hóa tiêu biểu trong cả nước về các vấn đề trọng tâm của giáo dục nước ta hiện nay.

Phát biểu ý kiến tại buổi làm việc, Thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định: Công tác giáo dục là việc làm thường xuyên, liên tục của nhiều thế hệ; giáo dục bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của đất nước, tương lai của dân tộc. Với ý nghĩa đó, Thủ tướng đề nghị nên đầu tư nghiên cứu thêm chuyển đổi cơ chế quản lý giáo dục theo kịp sự chuyển đổi cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; mạnh dạn đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa giáo dục bằng cách để các thành phần khác nhau trong xã hội cùng chăm lo cho giáo dục, mở thêm các trường đại học, tăng quy mô giáo dục, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân là được học tập suốt đời, xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập... Sự khẳng định nói trên của Thủ tướng mở ra hướng đi mới, thể hiện quyết tâm của Ðảng và Chính phủ trong việc chấn hưng nền giáo dục nước nhà.

Thành tựu giáo dục gần 60 năm qua của nước ta là to lớn, gắn liền với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch khác có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần và ngày nay, nó gắn liền với phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng thành tựu ấy chưa tương xứng với tiềm năng của một dân tộc có nền văn hiến lâu đời, có truyền thống hiếu học và anh hùng, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, nhất là vài thập kỷ gần đây.

Vì sao một chủ trương đúng, coi giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu có quan hệ mật thiết tới sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội hiện nay và tương lai của đất nước trong thời gian 40 đến 50 năm sau lại không được thể hiện trên thực tế? Ðây là bài toán lịch sử đặt ra cho dân tộc ta mà toàn Ðảng, toàn dân phải đem nhiều tâm huyết và trí tuệ ra để giải bằng được, không để dân tộc ta tụt hậu quá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, giải bài toán lịch sử này không phải dễ. Vì nước ta còn là nước nghèo, kinh tế chậm phát triển. Do đó, muốn phát triển sự nghiệp giáo dục cần có một cuộc cải cách giáo dục mang tính cách mạng. Ðây chính là vấn đề quan trọng, liên quan đến chiến lược con người, đến vận mệnh của đất nước, tương lai của dân tộc. Vấn đề khó, nhưng nhất định làm được, vì chúng ta có nhiều ưu thế. Ðó là: tiềm năng trí tuệ của dân tộc ta rất mạnh được thể hiện qua truyền thống từ ông cha ta cho đến ngày nay; Nhân dân ta có tinh thần yêu nước và hiếu học; Ta có chế độ ưu việt, có hệ thống chính trị vững mạnh do Ðảng lãnh đạo; Ðường lối đổi mới của Ðảng được công nhận là "Ðúng quy luật", được dư luận trong nước và nước ngoài đánh giá cao; Vị thế trên trường quốc tế của ta ngày càng tăng, nhiều nước mong muốn giúp đỡ và hợp tác với ta; Thành tựu khoa học công nghệ thế giới phát triển nhanh, nhất là công nghệ thông tin có thể hỗ trợ cho phát triển giáo dục.

Với những ưu thế đã có, để thực hiện cuộc cải cách giáo dục mang tính cách mạng đó, phải dựa vào dân, phải phát huy mạnh mẽ sức dân để giải quyết vấn đề của dân, nắm vững quan điểm Nhà nước và nhân dân cùng làm, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục. Nhà nước quản lý về mặt chiến lược và luật pháp, nắm vai trò chủ đạo đầu tư, thu hút sự hợp tác và đầu tư quốc tế cho giáo dục ở một số trường lớn, chất lượng cao mà dân không đủ điều kiện làm; các vùng khó khăn, dân quá nghèo. Mạnh dạn mở rộng cho dân làm các trường dân lập, tư thục từ mẫu giáo đến đại học, nhưng phải là vận động, thuyết phục và tổ chức cho dân làm chứ không phải bắt dân xin rồi Nhà nước có cho làm hay không cho làm. Kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp tràn lan quá sức của Nhà nước trong quản lý và đầu tư cho giáo dục. Phát huy mạnh mẽ trách nhiệm và quyền tự chủ của các địa phương trong phát triển giáo dục. Phát huy đầy đủ quyền tự chủ của các trường đại học, cao đẳng, với sự quản lý vĩ mô, hỗ trợ có hiệu quả, thanh tra uốn nắn, giúp đỡ kịp thời của ngành giáo dục. Tuyên truyền, giáo dục, xây dựng động cơ học tập đúng đắn, không học theo lối khoa cử, học chỉ để làm quan chức mà là học để biết, để làm việc, để chung sống, để hội nhập và để làm người Việt Nam chân chính vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nguyên nhân dẫn đến những bức xúc của giáo dục hiện nay chính là do không đáp ứng được nhu cầu về sự học của dân và chưa phát huy được sức dân. Trước đây, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chúng ta đã có bài học vô cùng thấm thía. Chúng ta không đáp ứng được nhu cầu về cái ăn của dân. Nhà nước phải đi vay, nhập khẩu tấm, bột mì, ngô vẫn không đủ no. Nhưng khi chúng ta đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, giải phóng sức dân thì chỉ một thời gian ngắn chúng ta đã có đủ lương thực và rồi xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới. Bây giờ, ngẫm về giáo dục cũng thấy có phần giống như nông nghiệp.

Hiện nay, nền giáo dục của ta không đáp ứng được nhu cầu về sự học của dân và việc nâng cao chất lượng, xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực cũng rất khó khăn. Nếu Nhà nước cứ ôm mãi, không có một cơ chế để phát huy sức mạnh của dân thì những yếu kém, tiêu cực trong giáo dục không thể khắc phục được. Và như thế chúng ta không thể thực hiện được mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết của Ðảng đã đề ra là xây dựng cả nước trở thành một XHHT, không tạo ra được mặt bằng dân trí mới và nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HÐH đất nước. Cần phải xác định rằng, nền giáo dục trong XHHT phải bao gồm hai hệ thống và phải quan tâm, coi trọng cả hai hệ thống. Ðó là: hệ thống giáo dục trong nhà trường cho lớp trẻ và một bộ phận người lớn có điều kiện; hệ thống giáo dục ngoài nhà trường cho nhân dân lao động.

Về cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông trong nhà trường tổ chức như hiện nay là tương đối hợp lý, nhưng cần đầu tư mở thêm trường THPT bằng các hình thức tư thục và dân lập. Cần có cách làm sáng tạo để đưa việc học nghề phổ thông theo yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động vào các trường THPT, nhất là các trường THPT dân tộc nội trú. Cần bằng nhiều cách mở các trường, các trung tâm dạy nghề, ngoại ngữ, tin học cho học sinh tốt nghiệp THPT không có điều kiện học ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của Nhà nước.

Về hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, cần tổ chức sao cho đáp ứng yêu cầu học tập của khoảng 56 triệu người không có cơ hội được học tập trong nhà trường, đặc biệt là khoảng 40 triệu người lao động có nhu cầu đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng cập nhật kiến thức nhằm đáp ứng kịp thời sự đổi mới không ngừng của khoa học và công nghệ.

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Ðào tạo cùng Hội Khuyến học Việt Nam xây dựng gần 4.000 trung tâm học tập cộng đồng xã, phường (đạt 40% số xã, phường trong cả nước). Ðây là một nhân tố mới, một mô hình trường lớp của nhân dân lao động, cho người lớn, cần gì học nấy, tạo điều kiện cho người dân được học suốt đời, hình thành hệ thống giáo dục ngoài nhà trường. Nhưng để nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, cần phải hướng tới một nền giáo dục đại học đại chúng. Vì vậy, mạng lưới đào tạo đại học và cao đẳng của ta cần phải được hình thành từ trung ương xuống đến tận tỉnh, huyện, các doanh nghiệp, các cơ quan, các trường THPT, các trung tâm học tập cộng đồng.

Ta chấp nhận có nhiều cấp độ trong giáo dục đại học, trong trình độ đại học. Theo đó, có trường đại học đào tạo sinh viên đại học ngang trình độ quốc tế; có trường đại học đào tạo sinh viên đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội cụ thể của đất nước ta trong vòng mấy thập kỷ tới và đáp ứng nhu cầu của các dân tộc thiểu số, của các vùng sâu, vùng xa. Chúng ta tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên tốt nghiệp đại học được tiếp tục nâng cao trình độ, học suốt đời, cập nhật kiến thức mới thường xuyên hoặc theo định kỳ được bồi dưỡng thêm. Trung ương chỉ mở những trường đại học chất lượng cao, những ngành mũi nhọn; còn tỉnh, huyện được quyền mở các trường hoặc trung tâm đào tạo cao đẳng, đại học cần thiết đáp ứng yêu cầu của địa phương, cập nhật kiến thức cho cán bộ địa phương và nhân dân lao động.

Có như thế mới thỏa mãn được nhu cầu học đại học của xã hội và mới đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp CNH, HÐH, phù hợp yêu cầu và điều kiện của đất nước ta...

Như vậy, có thể thấy rằng: Xã hội học tập là một xã hội phát triển mạnh xã hội hóa giáo dục. Mọi người đều hiểu biết, có trách nhiệm, nghĩa vụ học tập và góp phần nâng cao chất lượng, nội dung, phương pháp học tập và giải quyết các điều kiện để phát triển sự nghiệp giáo dục. Huy động mọi tiềm năng trí tuệ, tài lực, vật lực trong toàn xã hội, tạo ra nhiều nguồn lực đa dạng, để vừa phát triển giáo dục - đào tạo trong các trường học, vừa tạo điều kiện hỗ trợ việc tổ chức nhiều hình thức giáo dục mới, đa dạng bên ngoài nhà trường; xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh trong toàn xã hội.

Trước hết, phải vừa nâng cao, vừa mở rộng giáo dục phổ thông, đại học, cao đẳng và THCN với nhiều hình thức học tập trung, tại chức, học từ xa... ở các ngành, các vùng miền, dân tộc, đa dạng đối tượng, đa dạng trình độ. Phải đa dạng hóa chương trình, có chương trình chất lượng cao, có chương trình phổ cập, có chương trình học tập trung, có chương trình học tại chức, có chương trình nâng cao, có chương trình học từ xa, v.v. Ðể làm được điều đó, Bộ Giáo dục và Ðào tạo giữ vai trò chủ đạo, khéo tổ chức và phân công huy động cao nhất lực lượng của xã hội, của các hội khoa học nghề nghiệp, văn hóa nghệ thuật, các cán bộ trí thức đương chức, cán bộ về hưu còn có sức khỏe và trình độ tham gia vào việc biên soạn giáo trình, tài liệu học tập.

Ðể giải quyết cân đối giữa việc nâng cao chất lượng và mở rộng việc học cho nhân dân, ngoài đội ngũ giáo chức chuyên nghiệp cần vận dụng tốt phương châm Bác Hồ dạy: Người biết nhiều bảo người biết ít, để huy động đội ngũ những người đã được đào tạo, có tích lũy kinh nghiệm trong thực tiễn, có tâm huyết tham gia vào đội ngũ giảng viên, hướng dẫn viên học tập tại các trường và các trung tâm đào tạo. Có chính sách thích hợp về tinh thần và vật chất, đồng thời có chế độ tập huấn, bồi dưỡng cần thiết về phương pháp sư phạm cho đội ngũ này. Tăng cường điều kiện kết hợp giữa học kiến thức và thực hành để mở rộng việc học chữ và học nghề, cần tổ chức thật tốt việc liên kết giữa các nhà trường, các trung tâm đào tạo với các xí nghiệp, doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế. Giao quyền chủ động, giao trách nhiệm cho các trường, các địa phương thực hiện.

Quán triệt được quan điểm, tư tưởng ấy thì nhất định sẽ chấn hưng được nền giáo dục của nước nhà và những mục tiêu như đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển kinh tế bền vững và hội nhập quốc tế theo nghị quyết của Ðảng chắc chắn sẽ trở thành hiện thực trong cuộc sống.

Có thể bạn quan tâm