Thực tiễn cho thấy, hợp tác quốc tế đang giữ vai trò then chốt trong kết nối nguồn lực, nâng cao năng lực hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là ở các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với hạn chế như: Thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, hạ tầng và hệ sinh thái bổ trợ cùng với sự liên kết chưa chặt chẽ giữa viện, trường và doanh nghiệp, khiến hiệu quả lan tỏa công nghệ còn chưa như kỳ vọng.
Một minh chứng rõ nét cho nhu cầu thúc đẩy hợp tác là lĩnh vực sinh dược-mỹ phẩm, cấu phần quan trọng của kinh tế sinh học.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm), hiện nay Viện Hàn lâm đã hình thành nền tảng nghiên cứu có chiều sâu, làm chủ nhiều khâu từ chiết tách, phân lập, xác định cấu trúc đến đánh giá hoạt tính sinh học ở mức tế bào và một số đích phân tử, đặc biệt trên nguồn dược liệu phong phú, đặc hữu trong nước. Đây là lợi thế quan trọng để phát triển chuỗi giá trị gia tăng từ tài nguyên bản địa. Tuy nhiên, năng lực chế biến sâu ở quy mô pilot, công nghệ bào chế, tiêu chuẩn hóa hoạt chất và phát triển sản phẩm theo chuẩn quốc tế vẫn còn hạn chế.
Trong khi đó, các đối tác như Hàn Quốc có thế mạnh nổi trội trong hoàn thiện chuỗi “từ phòng thí nghiệm đến thị trường”. Nếu được đẩy mạnh theo các mô hình tích hợp như phòng thí nghiệm chung hay chương trình đồng phát triển sản phẩm, hợp tác này có thể tạo ra các dòng sinh dược-mỹ phẩm giá trị cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực.
Tương tự, trong lĩnh vực công nghệ hydrogen - một trụ cột của chuyển đổi năng lượng toàn cầu từ thực tiễn tại Việt Nam cho thấy nhu cầu hợp tác càng trở nên rõ nét.
Viện Hàn lâm đã bước đầu tiếp cận các vấn đề cốt lõi, như nghiên cứu vật liệu lưu trữ hydrogen với yêu cầu cao về mật độ năng lượng và an toàn cũng như các chất mang hydrogen nhằm giải bài toán vận chuyển trong chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, các kết quả này hiện vẫn chủ yếu dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, thiếu điều kiện để chuyển sang phát triển công nghệ và ứng dụng thực tiễn.
Trong khi đó, Hàn Quốc đã hình thành hệ sinh thái hydrogen tương đối hoàn chỉnh, từ nghiên cứu vật liệu, công nghệ lưu trữ đến tích hợp hệ thống và triển khai trong công nghiệp, giao thông.
Từ thực tiễn đó, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho rằng, nếu được thúc đẩy theo các chương trình hợp tác bài bản và dự án thí điểm cụ thể, hai bên có thể từng bước nâng cấp kết quả nghiên cứu lên quy mô ứng dụng, qua đó hình thành năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ hydrogen toàn cầu.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa khoa học, công nghệ ngày càng sâu rộng, hợp tác quốc tế được xác định là một trong những trụ cột quan trọng thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, hợp tác quốc tế không chỉ dừng ở việc tiếp nhận công nghệ hoàn chỉnh, mà cốt lõi là tham gia trực tiếp vào quá trình tạo lập tri thức, làm chủ các công nghệ, chuyển từ vị thế tiếp nhận sang đồng sáng tạo, từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển trong nước.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cần tăng cường sự đồng hành của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và đối tác trong, ngoài nước, nhất là đối tác như Hàn Quốc, nhằm cùng xây dựng hệ sinh thái công nghệ mạnh, có khả năng cạnh tranh và vươn ra thị trường quốc tế.
Hiện nay, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thúc đẩy mô hình thương mại hóa dựa trên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà trường-Doanh nghiệp-Nhà nước, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược như: AI, bán dẫn-vi mạch, công nghệ sinh học, UAV, dữ liệu lớn và chuyển đổi số. Hạt nhân của mô hình là Trung tâm đổi mới sáng tạo, đóng vai trò kết nối công nghệ với thị trường, điều phối nguồn lực và thúc đẩy thương mại hóa.
Đồng thời, nhà trường xây dựng các cơ chế hỗ trợ đồng bộ, bao gồm Hội đồng cố vấn chiến lược với lãnh đạo một số tập đoàn lớn như: GIBC, Vina Capital, VNG, AgriS, Coteccons…
Mục tiêu cuối cùng là hình thành các doanh nghiệp công nghệ, đưa sản phẩm ra thị trường trong nước và quốc tế và xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên cứu-sở hữu trí tuệ-thương mại hóa.
Cùng với mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, hợp tác đào tạo nhân lực giữ vai trò trụ cột nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trọng tâm là phát triển các chương trình đào tạo toàn diện, hình thành đội ngũ nhân lực vững chuyên môn, giàu tư duy đổi mới và năng lực hội nhập.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đang chú trọng xây dựng thế hệ người học có khả năng hội nhập, tham gia nghiên cứu và công bố khoa học ngay từ sớm.
Trên nền tảng đó, tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo nhân lực chất lượng cao ở các lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời nâng cấp hệ thống đào tạo với mục tiêu phát triển 20 chương trình cấp bằng chung, hơn 200 chương trình đạt kiểm định quốc tế và đẩy mạnh các hình thức đào tạo từ xa.
Từ thực tiễn hợp tác với Hàn Quốc thời gian qua, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thế Duy, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, việc triển khai các dự án chuyển giao công nghệ cùng xu hướng doanh nghiệp Hàn Quốc đặt hàng nghiên cứu từ Việt Nam đã tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu ứng dụng và đào tạo, qua đó vừa nâng cao năng lực công nghệ, vừa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Bởi vậy, cần tiếp tục thúc đẩy các mô hình hợp tác đa phương giữa Viện-Trường-Doanh nghiệp với các đối tác quốc tế theo hướng đồng phát triển, chia sẻ lợi ích, phát huy thế mạnh bổ sung của mỗi bên và hướng tới tạo ra các sản phẩm công nghệ chiến lược có sức cạnh tranh trên thị trường.