Hỏi: Ðược biết Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường sẽ trình Quốc hội Báo cáo thẩm tra về Dự án Luật Sở hữu trí tuệ và Báo cáo giám sát tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta, làm căn cứ để các đại biểu Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Sở hữu trí tuệ trong kỳ họp này. Ông có thể cho bạn đọc báo Nhân Dân biết sở hữu trí tuệ là gì và việc Quốc hội thông qua Luật Sở hữu trí tuệ có ý nghĩa như thế nào?
Trả lời: Sở hữu trí tuệ là quyền do pháp luật thừa nhận đối với tài sản trí tuệ. Sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả (quyền đối với tác phẩm), quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền đối với sự trình diễn tác phẩm), quyền sở hữu công nghiệp (quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật kinh doanh và quyền đối với giống cây trồng).
Tài sản trí tuệ là loại tài sản vô hình, tuy không thể nhận biết bằng giác quan nhưng có khả năng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần to lớn, mang lại sức mạnh và thế cạnh tranh vững chắc cho chủ sở hữu tài sản. Trong bối cảnh kinh tế phát triển theo hướng kinh tế tri thức hiện nay, hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm (kể cả sản phẩm truyền thống) ngày càng tăng, nhất là ở các nước phát triển. Thí dụ, tài sản vô hình của hãng Walt Disney chiếm tới 70,9% tổng tài sản; của hãng Nike chiếm tới 76%; còn ở các hãng kinh doanh máy tính, phần mềm như Microsoft, Yahoo thì tài sản vô hình chiếm tới 98 - 99% v.v.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là việc pháp luật bảo đảm các điều kiện để chủ sở hữu quyền có thể thực thi các quyền của mình, đồng thời ngăn chặn, xử lý mọi hành vi sử dụng quyền nói trên do người thứ ba thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu quyền.
Bảo hộ có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ là một chính sách rất quan trọng, rất cần thiết để thúc đẩy, khuyến khích hoạt động sáng tạo.
Sở dĩ như vậy là vì tài sản trí tuệ được tạo ra không dễ dàng, phải tốn nhiều thời gian, của cải và trí lực nhưng lại rất dễ bị sao chép, dễ bắt chước để đưa vào khai thác nhằm mục đích sinh lợi. Ðiều này không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của chủ sở hữu mà còn ảnh hưởng tới người sử dụng sản phẩm, tới các quá trình đầu tư, hội nhập.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các nước phải cạnh tranh để thu hút đầu tư nước ngoài; các yếu tố thuận lợi của một số nước đang phát triển như vị trí địa lý, tiền công lao động rẻ v.v. đang mất dần tầm quan trọng, thay vào đó là các chính sách tạo môi trường đầu tư hấp dẫn. Một trong những yếu tố rất quan trọng để tạo môi trường đầu tư tin cậy là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhà đầu tư sẽ không đầu tư nếu họ không được bảo hộ. Hơn nữa, quốc gia vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể phải đối mặt với các biện pháp trả đũa, đóng cửa thị trường của các quốc gia đối tác.
Như vậy, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vừa xuất phát từ nhu cầu nội tại của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vừa là một đòi hỏi bắt buộc khi tham gia các quan hệ kinh tế quốc tế. Việc Quốc hội thảo luận tại Kỳ họp thứ 7 và dự kiến thông qua Luật Sở hữu trí tuệ trong năm nay sẽ thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ và sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để nước ta sớm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Hỏi: Qua nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực tế ở nước ngoài, ông thấy các nước thực hiện việc bảo hộ sở hữu trí tuệ như thế nào ?
Trả lời: Hiện nay, có 182 nước, tức là khoảng 90% số quốc gia trên thế giới tham gia Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).
WIPO chính thức được thành lập năm 1967. Tuy nhiên, tổ chức tiền thân của nó bắt đầu hoạt động khi một số nước công nghiệp ký Công ước Paris về Bảo hộ Sở hữu công nghiệp (1883) và Công ước Bern về Bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật (1886). WIPO thực hiện nhiều nhiệm vụ liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, như quản lý các điều ước quốc tế, giúp đỡ các chính phủ, các tổ chức và khu vực tư nhân trong lĩnh vực này, hài hòa và đơn giản hóa các thủ tục có liên quan. Sau Công ước Paris gần 100 năm, ngày 2-7-1976, Việt Nam mới trở thành thành viên WIPO.
Các quốc gia thành viên WIPO đều có hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ với các quy phạm pháp luật khá đầy đủ về dân sự, hành chính và hình sự. Nhìn chung, pháp luật về sở hữu trí tuệ của các nước có ba mô hình chủ yếu sau:
Một là, có một luật chung điều chỉnh mọi đối tượng thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Mô hình này chưa phổ biến, có các nước Pháp, Philippines, Sri Lanka v.v. áp dụng.
Hai là, có luật riêng áp dụng cho từng lĩnh vực sở hữu trí tuệ: Luật về Quyền tác giả (bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan), Luật Sở hữu công nghiệp và Luật về Giống cây trồng. Mô hình này là của các nước Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, Brazil, Colombia, Mexico, Uruguay v.v.
Ba là, có các luật đơn hành về từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng sở hữu trí tuệ: Luật về Quyền tác giả, Luật Sáng chế - Giải pháp hữu ích - Kiểu dáng công nghiệp, Luật Nhãn hiệu hàng hóa - Chỉ dẫn địa lý - Tên thương mại, Luật Chống Cạnh tranh không lành mạnh, Luật Giống cây trồng, Luật Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn v.v. Hầu hết các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, Áo, Thụy Sĩ, Nga, Canada, Australia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore v.v. đều theo mô hình này.
Qua khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm của Thuỵ Sĩ và làm việc với các tổ chức WIPO, WTO, tôi nhận thấy rằng cùng với hệ thống pháp luật hoàn thiện về sở hữu trí tuệ, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở các nước phát triển được thực hiện khá đầy đủ với chế tài xử phạt nghiêm khắc. Các bạn Thụy Sĩ có giới thiệu với chúng tôi một thí dụ điển hình, đó là vụ Công ty Richmont (Thụy Sĩ) kiện 32 công ty nước ngoài làm hàng nhái ra tòa án, mỗi công ty đã phải trả 18 triệu USD cho Richmont. Có thể thấy, tòa án đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Hỏi: Ông cho biết một vài nhận xét về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta?
Trả lời: Những quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã có ở Việt Nam từ đầu những năm 80 (Ðiều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và sáng chế 1981, Ðiều lệ về nhãn hiệu hàng hóa 1982, Ðiều lệ về kiểu dáng công nghiệp 1988 v.v.), nhưng chỉ từ sau khi Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự (1995), chúng ta mới có những quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ mang đầy đủ hiệu lực pháp lý. Phần 6 Bộ luật Dân sự (Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ) với 61 điều thừa nhận quyền dân sự đối với các thành quả trí tuệ là bước khởi đầu quan trọng, đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
Trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự, Nhà nước đã ban hành khoảng 40 văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành các quy định về sở hữu trí tuệ. Các luật ra đời sau Bộ luật Dân sự (Luật Khoa học và công nghệ, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hình sự, Luật Báo chí, Luật Xuất bản v.v.) đều có một số điều khoản liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Cho đến nay, hầu hết các dạng tài sản trí tuệ đều đã được pháp luật Việt Nam thừa nhận là đối tượng của quyền sở hữu và được Nhà nước bảo hộ.
Về quan hệ quốc tế, Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ, gồm Công ước Paris về sở hữu công nghiệp, Công ước Bơn về bản quyền tác giả, Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Hiệp ước Hợp tác bằng sáng chế - PCT và Công ước Stockholm về thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO).
Nước ta cũng đã cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là tại thời điểm gia nhập tổ chức này, mọi nghĩa vụ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ quy định trong Hiệp định về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) sẽ được Việt Nam thực hiện ngay mà không cần thời gian chuyển tiếp.
Ðồng thời, theo Hiệp định TRIPS, Việt Nam có nghĩa vụ phải tham gia các điều ước quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ như Công ước Geneva về bảo hộ người sản xuất bản ghi âm chống lại sự sao chép trái phép (1971), Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát thanh, truyền hình (1961), Công ước Brussels về phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình mã hóa (1974) và Công ước UPOV về bảo hộ giống cây trồng mới (văn kiện 1991).
Có thể nói, đến thời điểm này, pháp luật về sở hữu trí tuệ của nước ta đã cơ bản đáp ứng được tiêu chuẩn về tính đầy đủ theo yêu cầu của Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế quan trọng khác về sở hữu trí tuệ. Ngoại trừ tín hiệu vệ tinh mang chương trình mã hóa chưa được bảo hộ, pháp luật Việt Nam đã quy định về các đối tượng bảo hộ, quyền, thời hạn được hưởng quyền, cơ chế bảo hộ phù hợp với chuẩn mực của các điều ước quốc tế.
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ của nước ta còn chưa thật sự đáp ứng yêu cầu về tính hiệu quả. Các quy định về trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp chế tài dân sự, hành chính, hình sự còn chưa đầy đủ, chưa rõ ràng và còn mâu thuẫn, chồng chéo.
Thí dụ, việc xử lý vi phạm sở hữu công nghiệp cùng một lúc có thể áp dụng hai nghị định khác nhau với hai mức phạt khác nhau: Nghị định 12/CP ngày 6-3-1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp quy định mức phạt từ năm triệu đồng đến 100 triệu đồng, trong khi Nghị định 175/CP ngày 10-10-2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại quy định mức phạt từ hai triệu đồng đến 10 triệu đồng. Hơn nữa, các quy định phạt hành chính còn chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Với mức phạt tối đa là 100 triệu đồng thì người vi phạm sẵn sàng bỏ ra để đạt được lợi ích lớn hơn nhiều khi có được tài sản trí tuệ của người khác. Bên cạnh đó, quy định về thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế hoạt động của hệ thống các cơ quan thực thi hành chính cũng còn những vấn đề chưa hợp lý.
Hỏi: Theo ông, nhận thức của xã hội hiện nay về quyền sở hữu trí tuệ như thế nào ?
Trả lời: Sở hữu trí tuệ ngày càng trở thành mối quan tâm của xã hội, đặc biệt là của các chuyên gia về khoa học - công nghệ và của các doanh nghiệp. Số lượng các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ ngày càng tăng (1996: 8.175; 1997: 7.296; 2000: 8.417; 2001: 8.765; 2002: 10.990; 2003: 14.190). Các đối tượng sở hữu trí tuệ tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế, khoa học - công nghệ ngày càng nhiều; tuy nhiên, số đơn đăng ký của người nước ngoài và số văn bằng bảo hộ cấp cho người nước ngoài còn nhiều hơn công dân trong nước.
Ðối với quyền tác giả, từ năm 1986 đến nay, Cục Bản quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật đã cấp 6.559 giấy chứng nhận quyền tác giả đối với 14.833 tác phẩm cho các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Mặc dù số đơn đăng ký và số văn bằng đã cấp tăng nhanh, nhưng so với thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, tỷ lệ đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ của Việt Nam vẫn còn rất thấp. Chẳng hạn, chỉ trong năm 1999, số đơn đăng ký về sáng chế của Nhật Bản là 405.655, gấp nhiều lần tổng số đơn đăng ký của Việt Nam (9.388) trong vòng tám năm (1996 - 2003).
Có thể thấy các chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ của Việt Nam chưa thật sự nhận thức được giá trị nguồn tài sản vô hình của mình. Chính vì vậy, một số nhãn hiệu hàng hóa có uy tín trong nước đã bị chiếm dụng như thuốc lá Vinataba, cà-phê Trung Nguyên, may Việt Tiến, v.v. Sự thiếu quan tâm, thiếu hiểu biết của các doanh nghiệp đối với sở hữu trí tuệ có thể dẫn tới tình trạng người chủ đích thực của các đối tượng sở hữu trí tuệ không thể yêu cầu xử lý các hành vi vi phạm, thậm chí có thể tự đẩy mình vào tình thế bị coi là xâm phạm quyền khi đối tượng đó đã được bảo hộ cho người khác.
Về phía người dân, nhận thức về sở hữu trí tuệ cũng còn thấp. Giá của hàng giả, hàng nhái quá rẻ so với hàng chính hiệu tuy chất lượng thấp nhưng trong nhiều trường hợp vẫn là một mãnh lực hấp dẫn người tiêu dùng. Việc tuyên truyền để nâng cao hiểu biết của xã hội đối với quyền sở hữu trí tuệ và đào tạo cán bộ về sở hữu trí tuệ chưa được chú ý.
Hỏi: Hiện nay ở nước ta chưa có một cuộc điều tra tổng hợp nào về tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nhưng thông qua hoạt động của thị trường và những nhận định, đánh giá của nhiều nhà quan sát trong và ngoài nước, có thể thấy quyền sở hữu trí tuệ chưa thật sự được tôn trọng. Ông có ý kiến như thế nào về vấn đề này ?
Trả lời: Thực tế cho thấy hiện tượng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta xảy ra với nhiều loại sản phẩm, hàng hóa. Từ tháng 1-2000 đến tháng 6-2003, lực lượng quản lý thị trường trong cả nước đã xử lý khoảng 1.500 vụ hàng giả có yếu tố xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (chủ yếu liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp).
Việc xâm phạm quyền tác giả thậm chí còn phổ biến hơn so với sở hữu công nghiệp. Nạn sao chép lậu xảy ra đối với nhiều loại hình tác phẩm, dưới nhiều dạng thể hiện: sách báo, phim ảnh, các tác phẩm văn học nghệ thuật, v.v. và nổi bật nhất là phần mềm máy tính. Trong các năm từ 1996 đến hết quý I năm 2004, thanh tra văn hóa thông tin đã phát hiện 166.887 vụ vi phạm, chuyển 788 vụ sang truy tố hình sự, thu giữ 1.701.074 băng hình, 1.270.503 đĩa CD, VCD, DVD, 751.616 bản văn hóa phẩm, 4.133 máy thu hình, máy vi-đê-ô, đình chỉ hoạt động 7.970 cơ sở.
Một điều rất đáng lo ngại là các vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang tăng lên về cả số lượng và quy mô. Năm 1995, tổng số vụ vi phạm sở hữu công nghiệp là 42 vụ, năm 2001 là 293 vụ, năm 2002 là 399 vụ và năm 2003 là 326 vụ. Trên thực tế, số vụ xâm phạm có thể còn lớn hơn.
Ðặc biệt, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là nghiêm trọng và phức tạp. Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, kỹ thuật sao chép, bắt chước ngày càng được cải tiến, sản phẩm vi phạm được sản xuất với số lượng lớn, tốc độ cao. Việc nhái các nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, v.v. không chỉ xảy ra với các sản phẩm tiêu dùng thông thường mà còn lan rộng tới những sản phẩm có công dụng, chức năng đặc biệt như thuốc chữa bệnh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, sắt thép xây dựng, xi-măng, v.v. Ðiều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi và cả sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng, người sử dụng các sản phẩm đó.
Việc sao chép tác phẩm không chỉ bó hẹp trong phạm vi các sản phẩm giải trí mà còn thấy cả trong các lĩnh vực nghiên cứu, sáng tác, đào tạo. Sản xuất, buôn bán hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang là phương tiện kiếm sống của khá nhiều người.
Hỏi: Thưa ông, các cơ quan có trách nhiệm ở nước ta đã thực thi nhiệm vụ của mình để hạn chế tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như thế nào ?
Trả lời: Theo quy định của pháp luật, hiện nay ở nước ta có năm cơ quan cùng chia sẻ trách nhiệm bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Ðó là tòa án, thanh tra chuyên ngành, Quản lý thị trường, Cảnh sát kinh tế và Hải quan.
Cho tới nay, số vụ việc tranh chấp, xung đột về sở hữu trí tuệ được giải quyết ở tòa án là rất ít. Từ năm 1995 đến hết năm 2001, tổng số vụ việc về sở hữu trí tuệ được tòa án giải quyết là 45 vụ, chủ yếu là các vụ kiện xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp.
Trong khi đó, có hàng nghìn vụ xử lý hành chính về vi phạm sở hữu trí tuệ do các cơ quan thanh tra, quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế và hải quan thực hiện. Hầu như trong mọi trường hợp xảy ra vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, người có quyền đều nộp đơn cho các cơ quan chức năng xử lý hành chính để yêu cầu xử lý. Có thể nói tình trạng "hành chính hóa" các quan hệ dân sự về sở hữu trí tuệ đã vượt quá mức cần thiết. Trình tự dân sự đáng lẽ phải được coi là biện pháp chủ yếu, phải được áp dụng triệt để và phổ biến lại trở thành giải pháp ít được sử dụng.
Từ năm 1999 đến hết 2003, lực lượng thanh tra khoa học - công nghệ trong toàn quốc đã xử lý vi phạm hành chính đối với 252 cơ sở, trong đó áp dụng hình phạt tiền với 111 cơ sở, số tiền phạt là 750 triệu đồng và cảnh cáo 141 cơ sở khác.
Sau khi Luật Hải quan có hiệu lực, lực lượng hải quan đã đẩy mạnh việc kiểm tra về sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Từ năm 1999 đến 2003, lực lượng này đã xử lý gần 400 vụ xuất nhập khẩu hàng hóa có vi phạm về sở hữu trí tuệ.
Còn lực lượng quản lý thị trường, như trên đã nêu, cũng thu được kết quả đáng kể trong việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Trong năm 2003 và 2004, lực lượng này cùng phối hợp với các cơ quan chức năng khác xử lý hàng chục vụ buôn bán, tàng trữ các sản phẩm sao chép lậu.
Hỏi: Với tư cách là cơ quan của Quốc hội có trách nhiệm thẩm tra Dự án Luật Sở hữu trí tuệ và giám sát việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực này, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội có những kiến nghị gì với Quốc hội và Chính phủ ?
Trả lời: Việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là tình trạng chung xảy ra ở nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Vì lợi ích phát triển lâu dài của đất nước, Nhà nước ta cần khẳng định chính sách bảo hộ đầy đủ quyền sở hữu trí tuệ và thực thi nghiêm túc pháp luật về sở hữu trí tuệ. Trong bối cảnh 90% các quốc gia trên thế giới đã tham gia WIPO thì đó cũng là sự bảo đảm tiếp tục thực hiện chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Ðể nâng cao hiệu lực và hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chúng ta cần nhanh chóng hoàn thiện Luật Sở hữu trí tuệ. Trong Luật, cần xác định cơ quan làm đầu mối phối hợp, đồng thời tăng cường sự phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ với nhau và giữa các cơ quan thực thi với chủ sở hữu quyền; nâng cao vai trò của Toà án trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Bên cạnh đó, cần chú trọng nâng cao nhận thức của xã hội đối với quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích các dịch vụ về sở hữu trí tuệ và nâng cao chất lượng của hoạt động này.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực mới mẻ đối với nước ta. Ðể tăng cường hiệu quả của công việc mới mẻ này, tránh những rủi ro có thể xảy ra do thiếu kinh nghiệm làm việc với các đối tác, chúng ta cần vừa phát huy cao độ nội lực vừa tích cực học hỏi kinh nghiệm hay của các nước phát triển trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, tranh thủ sự trợ giúp quốc tế trong việc đào tạo cán bộ; tăng cường năng lực thông tin cho các cơ quan thực thi; nghiên cứu khả năng ký kết các Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với một số nước, nhất là các nước láng giềng.