Sản xuất nhiều hàng tiêu dùng và xuất khẩu

Bốn tháng đầu năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 11,6% so với tháng 12-2007. Nhập siêu tiếp tục tăng cao. Tuy giá trị sản xuất công nghiệp vẫn có mức tăng khá, nhưng vẫn chậm hơn so với cùng kỳ năm trước và có xu hướng giảm dần.

Ðặc biệt, giá trị gia tăng của công nghiệp và xây dựng giảm khoảng 1% so với cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 8,15%. Ðiều đó thể hiện công nghiệp chế biến, chế tác còn yếu, sản phẩm còn mang nhiều tính chất gia công trên cơ sở nguyên liệu, vật tư nhập khẩu và cũng thể hiện phần nào nguyên nhân khách quan là giá nguyên liệu, vật liệu tăng cao, chi phí đầu vào của sản phẩm lớn.

Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13,02 tỷ USD, tuy có mức tăng trưởng khá 22,7%, nhưng vẫn còn thấp hơn cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức Chính phủ yêu cầu.

Ðể thực hiện nghiêm các giải pháp ngăn chặn lạm phát, trong những tháng còn lại của năm 2008, các doanh nghiệp thuộc ngành công thương đẩy mạnh hơn nữa sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, nhằm góp phần kiềm chế nhập siêu, bảo đảm cân đối giá cả các mặt hàng thiết yếu.

Trước hết, thực hành tiết kiệm, tiết giảm các chi phí, giảm định mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng trong sản xuất để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả đầu tư... Kiềm chế việc tăng giá các sản phẩm chủ yếu như điện, than, thép, xi-măng, phân bón. Tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng gia tăng các sản phẩm chế biến, chế tạo. Ưu tiên đầu tư phát triển các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn, có giá trị gia tăng cao để sớm hình thành các sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Phát triển công nghiệp năng lượng và áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ vật liệu và công nghiệp cơ khí chế tạo và cơ - điện tử. Quan tâm phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm cung cấp các loại nguyên liệu, linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, chi tiết cho làm hàng xuất khẩu và tiêu dùng. Ðây là một biện pháp quan trọng và cơ bản có tính chiến lược để hạn chế nhập siêu và nâng cao giá trị gia tăng.

Một biện pháp quan trọng là   tháo gỡ vướng mắc về vốn nhằm đẩy mạnh tiến độ đầu tư các dự án trọng điểm, đa dạng hình thức sử dụng vốn cho đầu tư mới và đầu tư chiều sâu. Chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, ứng dụng khoa học tiên tiến, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh thị trường của sản phẩm công nghiệp. Có kế hoạch xây dựng và củng cố hệ thống phân phối sản phẩm hợp lý, từng bước tham gia vào các kênh phân phối của các tập đoàn xuyên quốc gia. Trong đó khai thác tối đa thị trường trong nước, nhất là đối với phân đoạn thị trường người tiêu dùng có thu nhập thấp.

Trong bối cảnh nền kinh tế đã hội nhập quốc tế, cần tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành hàng nhằm hỗ trợ, liên kết các doanh nghiệp để nắm bắt thông tin, xử lý các tranh chấp thương mại, tạo thế cạnh tranh mạnh với hàng hóa của các nước nhập khẩu vào Việt Nam cũng như trên thị trường ngoài nước.

Ðối với các mặt hàng chủ lực cần bảo đảm cân đối cung - cầu để phục vụ sản xuất và tiêu dùng, như điện, xăng dầu, than, thép, phân bón, xi-măng... Với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nhu cầu điện của nền kinh tế quốc dân năm 2008 dự kiến khoảng 68,2 tỷ kW giờ điện thương phẩm, tương ứng với 77,2 tỷ kW giờ điện phát ra.

Ðể đáp ứng nhu cầu đó, với công suất toàn hệ thống cuối năm 2007 khoảng 14.000 MW, hệ thống điện cần thêm khoảng 2.200 MW từ các dự án nguồn kết hợp với việc tiếp tục mua điện từ các IPP và từ Trung Quốc. Do vậy, ngành điện cần phấn đấu đưa các nguồn điện vào vận hành đúng tiến độ, đồng thời phấn đấu giảm tổn thất điện năng xuống dưới 11%. Xăng dầu là mặt hàng nhập khẩu 100%, kế hoạch cả năm nhập khoảng 14,5 triệu tấn các loại. Chưa tăng giá xăng dầu từ nay cho đến hết tháng 6-2008, ngân sách tiếp tục bù lỗ; nghiên cứu để tăng khả năng dự trữ quốc gia và xây dựng cơ chế để sử dụng có hiệu quả nguồn lực này trong việc bảo toàn vốn và tham gia bình ổn thị trường xăng dầu. Triển khai thực hiện cơ chế bù lỗ trực tiếp cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội. Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất xi-măng trong nước có thể đáp ứng được nhu cầu mặt hàng xi-măng khoảng 40 triệu tấn. Ngành xi-măng sẽ giữ ổn định giá bán trong thời gian tới.

Nhu cầu tiêu thụ than trong nước khoảng 20,5 triệu tấn, tăng 2,5 triệu tấn, và xuất khẩu 19,5 triệu tấn, giảm 2,5 triệu tấn so với năm 2007. Ngành than đã có kế hoạch đáp ứng nhu cầu, trước hết cho các hộ tiêu thụ lớn trong nước như điện, xi-măng, phân bón, giấy... Ngành than chỉ tăng thêm sản lượng khi có nhu cầu của thị trường trong nước. Năm 2008, nhu cầu khoảng 5 triệu tấn thép cán các loại, tăng 16,9% so với thực hiện năm 2007. Năng lực sản xuất thép xây dựng trong nước đến cuối năm 2007 khoảng hơn 6 triệu tấn, có thể đáp ứng nhu cầu; ngoài ra, trong nước đã sản xuất được một số chủng loại thép tấm cán nguội, thép ống, tôn mạ, tấm lợp...

Bộ Công thương theo dõi sát thị trường, phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội Thép để bảo đảm cung ứng đủ lượng thép và bình ổn giá. Năm 2008 cả nước dự báo cần khoảng 1,7 triệu tấn phân đạm u-rê; 2,5 triệu tấn phân NPK; 1,43 triệu tấn phân lân và một số chủng loại phân khác như SA, DAP... trong khi các đơn vị sản xuất trong nước chỉ đáp ứng khoảng 860 nghìn tấn phân u-rê. Quý 2 -2008, Tổng công ty Hóa chất Việt Nam cố gắng đưa dự án sản xuất phân DAP tại Hải Phòng vào vận hành với sản lượng ước đạt 100 nghìn tấn, để giảm một phần nhập khẩu.

Các mặt hàng tiêu dùng khác như giấy, may mặc, giày dép, nhựa, sành sứ, thủy tinh, bia, rượu, nước giải khát, sữa, dầu thực vật, thực phẩm ăn liền... các doanh nghiệp trong nước bảo đảm cung cấp đủ cho thị trường.

Ðẩy mạnh xuất khẩu một mặt sẽ góp phần vào kích thích sản xuất trong nước, mặt khác sẽ góp phần tích cực hạn chế nhập siêu. Do vậy, Bộ Công thương đang tập trung chỉ đạo các đơn vị quản lý nhà nước và doanh nghiệp trong ngành tăng cường xúc tiến thương mại, phấn đấu tăng trưởng xuất khẩu cao, trong đó tập trung cho những mặt hàng có tỷ trọng lớn là dệt may, giày dép; những mặt hàng tiềm năng như hàng điện tử và linh kiện, đồ gỗ, dây và cáp điện, động cơ, hàng thủ công mỹ nghệ, xe đạp, phụ tùng... Ðẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, đồng thời tích cực phát triển các mặt hàng có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, như đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, xe đạp và phụ tùng, túi xách, va ly, ô dù...

Cần tập trung nâng cao chất lượng, tăng hàm lượng chế biến để tăng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản, thay cho việc tăng trưởng về khối lượng, số lượng. Nghiên cứu các cơ chế đặc biệt thu hút đầu tư nước ngoài vào những ngành công nghiệp hạ tầng (cơ khí, luyện kim, hóa chất), công nghiệp mũi nhọn (hóa dược, điện tử-tin học-viễn thông, vật liệu mới), nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.

Ðẩy mạnh hoạt động hội nhập, hợp tác quốc tế, cần chủ động đàm phán, ký các hiệp định song phương và đa phương thiết lập các khu vực mậu dịch tự do theo hướng tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Ðể thực hiện được các giải pháp nêu trên, các ngành liên quan cũng cần vào cuộc nhằm tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính như hải quan, thuế, thủ tục xuất nhập khẩu; duy trì tỷ giá USD/VND để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; tiếp tục cung ứng vốn, tiền tệ phục vụ sản xuất, nhất là các sản phẩm xuất khẩu. Kiến nghị ưu tiên cho vay sản xuất hàng xuất khẩu với lãi suất thấp; ngành tài chính có giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu thành lập các Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ Bảo hiểm xuất khẩu, Quỹ Xúc tiến thương mại...

BÙI XUÂN KHU,
Thứ trưởng Thường trực Bộ Công thương

Có thể bạn quan tâm