Sài Gòn ngày đầu giải phóng

Những ngày này cách đây tròn 40 năm, tôi cùng các nhà thơ Duy Khán, Gia Dũng theo cánh quân tiến vào Sài Gòn, và ở lại đấy 14 tháng liền, từ đầu tháng 5-1975 đến tháng 7-1976. Nhân dịp kỷ niệm ngày hoàn toàn giải phóng miền nam, xin giới thiệu với bạn đọc một ghi chép nhỏ cùng một bài thơ viết từ ngày đó.

Trong con mắt những người lính chúng ta, thành phố Sài Gòn những ngày mới giải phóng có nhiều điều lạ. Thứ nhất là quang cảnh hỗn độn do sự tháo chạy của ngụy quân, ngụy quyền để lại. Ðường phố nào cũng vung vãi quân phục, ba-lô lính ngụy trút ra. Dọc những trục đường về sân bay Tân Sơn Nhất, nhất là trong sân bay, không biết bao nhiêu ô-tô, xe máy vất lại khi gặp trở ngại hoặc chủ của nó đã tẩu thoát ra nước ngoài bằng đường hàng không. Trên một ngôi nhà bên đường Trương Minh Giảng, một chiếc trực thăng rơi xuống, nằm nghiêng, cánh quạt chìa hẳn ra ngoài đường phố, khiến ai đi ngang qua cũng ngước mắt nhìn lên. Chiếc trực thăng đó đã bị hỏng, cứ nằm trong tư thế chênh vênh như vậy nhiều tuần, còn ô-tô, xe máy phần nhiều còn tốt, còn xăng... nhưng lính ta không bao giờ đụng đến vì quy định nghiêm ngặt của quân đội đã được thuộc lòng trước khi vào giải phóng thành phố. Một anh bạn nhà báo nói với tôi rằng, trong mấy ngày cuối của Chiến dịch Hồ Chí Minh, mình anh đã sử dụng năm chiếc Hon-đa do chủ của nó vất lại trên đường để làm phương tiện đi lại tác nghiệp, có khi xe này hết xăng thì lấy xe khác! Ðiều lạ thứ hai là thành phố có nhiều nhà cao tầng, đường sá rộng và nhẵn, đặc biệt là xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa. Nhiều chiến sĩ ta xuất thân từ nông thôn, trước khi đến Sài Gòn chưa từng biết đến một thành phố, thậm chí một thị xã nào, chưa từng thấy một ngôi nhà hai tầng chứ nói chi đến nhà cao tầng như các khách sạn bên đường Nguyễn Huệ. Ngay những người từ Hà Nội vào cũng ngỡ ngàng nhiều thứ. Nhà cửa, đường sá chỉ là một chuyện, cái làm mọi người chú ý nhiều hơn là nếp sinh hoạt của thành phố. Vừa mới giải phóng, chính quyền cách mạng chỉ có thể tập trung vào việc bảo đảm an ninh, còn các thứ khác thì vẫn tiếp diễn theo nếp cũ. Dọc các tuyến phố có các trò giải trí để kiếm tiền như từng tốp người diễn các trò ảo thuật, bày bàn cờ thế, hoặc chọi gà... Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy một tổ gồm các chị em làm công tác quét dọn đường phố lại bị sự chỉ huy, giám sát trực tiếp của một người đàn ông đầu đội mũ phớt, tay cầm ba toong, miệng hút tẩu, gọi là cai. Ðiều ngạc nhiên lớn nhất là mỗi khi màn đêm buông xuống, tại bùng binh trước chợ Bến Thành, hàng trăm cô gái làm nghề "bán hoa" tập trung lại, để cho khách đàn ông kéo đến lựa chọn, mặc cả! Trước năm 1975, ở miền bắc nước ta không hề có một người phụ nữ nào làm nghề mại dâm, nên những chuyện diễn ra ở bùng binh đó là chuyện "chướng tai gai mắt", "không thể chấp nhận" được đối với cán bộ và bộ đội chúng ta. Phải đến hơn nửa năm sau ngày giải phóng, chúng ta mới dẹp được "chợ người" này.

Sài Gòn có nhiều thứ lạ, nên đi xem phố là sở thích của nhiều người lính khi được phép ra ngoài doanh trại. Hơn nữa, những ngày đó, nhân dân Sài Gòn đặc biệt yêu quý bộ đội ta, nên bộ quân phục Giải phóng "có giá" vô cùng. Chủ của tất cả các phương tiện giao thông đều không lấy tiền vé bộ đội, lại bố trí cho ngồi những chỗ tốt nhất. Khi đi những tuyến xe đường dài, chủ xe còn "bao" chuyện ăn uống cho bộ đội, làm lính ta nhiều khi lâm vào hoàn cảnh khó xử, nhưng không thể thoái thác sự ưu ái đó, vì họ bảo rằng đó chỉ là một cử chỉ nhỏ thể hiện lòng biết ơn bộ đội Giải phóng. Không chỉ chủ xe ưu ái bộ đội, mà ngay các hành khách trên xe cũng đặc biệt có tình cảm với lính ta. Có người nắn sờ áo lính, khen đẹp; đặc biệt nhiều người chú ý đôi dép cao-su, loại dép đúc thời ấy lính ta thường dùng. Họ khen đẹp, khen đi nhẹ, đi êm, không phát ra tiếng động... Nghĩa là trong con mắt và ý nghĩ của người dân Sài Gòn ngày ấy, người lính chúng ta và cả những gì thuộc về người lính thật tuyệt vời. Có điều lạ nữa là khi chúng tôi mặc thường phục thì những người buôn bán mời chào: "Anh bộ đội ơi, mua cho em...", nghĩa là người dân Sài Gòn vẫn nhận ra mình là bộ đội, điều rất khó lý giải!

Phần đông lính chúng ta dạo phố không phải để mua bán (vì không có tiền) mà xem phố, xem những cái lạ của thành phố. Là một người lính, tôi cũng không ngoại lệ. Nhưng còn là một nhà báo, nhà thơ, ngoài việc tìm những cái lạ của thành phố, tôi còn quan sát và tìm điều lạ ngay ở những người lính đi xem phố. Như trên đã nói, khi dạo phố, hầu hết lính ta đều mặc quân phục, một mặt vì dân Sài Gòn rất yêu quý bộ quân phục, hơn nữa, lính ta làm gì có thường phục để mặc, dù có đơn vị khuyến khích bộ đội trong giờ nghỉ đi dạo phố nên mặc thường phục. Thế là trong đa sắc màu của thành phố, quân phục là một gam màu quan trọng, tạo nên sắc màu đặc trưng của Sài Gòn những ngày mới giải phóng. Khi đi xem phố, lính ta thường đi theo nhóm để khỏi lạc, cùng đi, cùng về. Trong những tốp lính dạo phố, tôi đặc biệt chú ý đến những nữ quân nhân, vốn là những chiến sĩ giao liên hoạt động nhiều năm trên tuyến đường Trường Sơn, tức là người làm nhiệm vụ dẫn đường cho các đơn vị bộ đội đi từ binh trạm này đến binh trạm khác. Ở rừng, thì chiến sĩ giao liên là người thông thạo đường nhất, ban đêm không đèn đuốc vẫn đưa quân đi không lạc đường. Thế mà trên đường phố Sài Gòn, nhiều cô giao liên đã lạc, phải nhờ người chỉ đường! Nói chung các tốp lính đi dạo phố không quen biết nhau, vì không cùng đơn vị, chỉ riêng các cô giao liên là gặp được nhiều người quen vì phần đông trước khi vào giải phóng Sài Gòn, lính ta từng đi qua nhiều binh trạm, đã từng là "khách" của các cô giao liên. Trông các cô gái giao liên đi dạo phố, đâu chỉ mầu quân phục khác với chung quanh, mà còn có một điều làm tôi chú ý: mầu da sốt rét rừng của các cô cũng khác xa sắc mặt người dân thành phố. Sau khi gặp gỡ, trò chuyện và chỉ đường cho mấy cô giao liên, trở về nơi làm việc tôi viết bài thơ sau đây:

Trên đường phố Sài Gòn

Vẫn nguyên vành mũ lá sen

Vẫn đôi dép đúc vốn quen đường rừng

Vẫn quân phục cũ nửa chừng

Dáng em không lẫn giữa rừng người chen.

- Xin chào cô gái giao liên

Lạ chưa, quên mất người quen ngày nào!

( Phố phường có dễ nhận đâu

Trách em cũng chỉ một câu trách đùa)

Em nhìn, đôi mắt mở to:

- Ơ kìa, anh cũng đã vô đây rồi

Mới đi một quãng đường thôi

Mà em gặp được bao người khách quen!

Cúi nhìn túi xách của em

Lại đùa: Chiếc gậy giao liên đâu rồi?

Căng tròn quai mũ em cười

Mắt trong em ngước nhìn trời cờ bay:

- Gậy em ngày đó cầm tay

Bây chừ thành cán cờ này, đó anh!

Chia tay, ngoảnh lại mấy lần

Nhìn theo vành mũ khuất dần phố đông

Tôi đi bước bước ngập ngừng

Thương em đôi má sốt rừng còn xanh!

Có thể bạn quan tâm