Rối nhiễu tâm trí, bệnh nguy hiểm đang bị coi nhẹ

Rối nhiễu tâm lý: Sự lệch lạc về sức khỏe tâm thần

Theo TS Trần Tuấn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển cộng đồng (RTCCD), rối nhiễu tâm lý là hiện tượng biểu thị tình trạng lệch lạc về sức khỏe tâm thần, thường xảy ra ở lứa tuổi học đường. Đây là căn bệnh có nhiều dấu hiệu phức tạp, diễn biến trong thời gian dài làm ảnh hưởng đến các kết quả chẩn đoán, dễ nhầm lẫn sang các bệnh thực thể khác hoặc bị bỏ qua. Khi người mắc đang ở thể nhẹ thường không có dấu hiệu, triệu chứng cụ thể, như nhức đầu, mệt mỏi không rõ nguyên nhân, chán ăn, lo lắng quá mức, giảm trí nhớ... Còn khi đã chuyển sang giai đoạn nặng, các triệu chứng trên thể hiện rõ rệt hơn, thường xuyên hơn, ảnh hưởng lớn đến những sinh hoạt hằng ngày, nhất là vấn đề học tập của học sinh. Ở giai đoạn này, nếu vẫn chưa được phát hiện và điều trị kịp thời, người mắc có thể rơi vào trạng thái trầm cảm, hoảng hốt, dần dần xa lánh bạn bè, người thân kèm theo các ý nghĩ cực đoan.

Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rối nhiễu tâm lý đứng thứ 5 trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây bệnh cho con người. Tổ chức này cũng dự báo hiện tượng này sẽ tăng từ 12% (1999) lên đến 20% (2020). Trẻ em và phụ nữ trong thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ là những đối tượng dễ mắc nhất. Một nghiên cứu mới đây của RTCCD, cho thấy có đến 20% trẻ em ở độ tuổi lớp 2, lớp 3 (7-8 tuổi) bị rối nhiễu tâm lý, cứ 5 bà mẹ nuôi con nhỏ thì có 1 người được chẩn đoán là rối nhiễu tâm lý. Riêng ở TP Hồ Chí Minh, 1/8 các bà mẹ mang thai 2 tháng tuổi có dấu hiệu trầm cảm, 1/5 trong số này có ý định tự tử.

Cần sự chăm sóc của cả cộng đồng

Rối nhiễu tâm trí đang là mối đe dọa sức khỏe của người dân. Tuy vậy, ở Việt Nam hiện nay, chưa có một tổ chức, cơ quan chuyên môn nào đứng ra nghiên cứu về các biện pháp phòng tránh cũng như điều trị. Đã vậy, rất nhiều trường hợp đến điều trị đã ở thể rất nặng, khả năng phục hồi là rất thấp.

Tiến sĩ Lã Thị Bưởi - Đại học Y Hà Nội cho rằng, thực tế hiện nay các phòng khám, trung tâm y tế cũng như các bệnh viện chỉ thường áp dụng 2 phương pháp sử dụng thuốc và tâm lý trị liệu chứ chưa có một trung tâm nào quan tâm đến vấn đề can thiệp tại cộng đồng. Cũng theo một nghiên cứu của RTCCD, hầu hết bệnh nhân khi đến khám và điều trị tại các bệnh viện khi bệnh đã điển hình, phát hiện muộn. Hơn nữa, ngành y đang rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ bác sĩ tâm thần ở các tuyến, đặc biệt tuyến huyện và tuyến xã đã gây nên rất nhiều khó khăn cho công tác khám và điều trị.

Bên cạnh đó, tiến sĩ Trần Tuấn còn cho rằng, một nguyên nhân quan trọng khác làm ảnh hưởng đến công tác phát hiện và điều trị cho những người bị rối nhiễu tâm trí là chính sách quốc gia về sức khỏe tâm thần không rõ ràng, hệ thống phát hiện sớm và can thiệp sớm chưa có, nhất là chăm sóc sức khỏe tâm thần cho bà mẹ và trẻ em. Hiện nay, tính trên cả nước chúng ta mới có duy nhất một trung tâm được đặt ở Bệnh viện Nhi Trung ương.

Trước thực trạng đó, tiến sĩ Lã Thị Bưởi khuyến cáo, các bậc phụ huynh, thầy cô giáo và các nhà hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe trẻ em cần ghi nhớ, ở lứa tuổi học sinh, khi cơ thể chưa hoàn thiện về hệ thống bảo vệ sức khỏe tinh thần. Bởi vậy, khả năng chống đỡ các yếu tố có hại còn yếu, khiến trẻ em dễ bị rơi vào trạng thái rối nhiễu, mọi hành động, ứng xử với trẻ em không được quên một nguyên tắc tránh làm trẻ tổn thương tâm lý. Không được để trẻ sống trong môi trường có quá nhiều yếu tố có hại cho sức khỏe tâm trí, như thường xuyên tiếp xúc với thuốc lá, rượu, bia, những cãi vã mâu thuẫn trong gia đình...

Hiện tại, Việt Nam đã có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng do Viện Sức khỏe tâm thần và Bệnh viện Tâm thần Trung ương phối hợp triển khai.

10 khuyến cáo của WHO cho công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần

1. Điều trị thực hiện ở tuyến ban đầu

2. Thuốc trị liệu tâm thần có sẵn ở cộng đồng

3. Chăm sóc thực hiện tại cộng đồng

4. Giáo dục công chúng

5. Đưa cộng đồng, gia đình và người bệnh cùng tham gia kiểm soát bệnh

6. Xác lập chính sách quốc gia, Chương trình quốc gia và Luật Chăm sóc sức khỏe tâm thần

7. Phát triển nguồn nhân lực

8. Phối hợp với các ngành khác

9. Giám sát dịch tễ học sức khỏe tâm thần

10. Hỗ trợ nghiên cứu.

Có thể bạn quan tâm