Cho đến nay, vẫn chưa xác định được hết số lượng tác phẩm của hệ thống sử thi Tây Nguyên. Khi không còn môi trường diễn xướng của sử thi tại các buôn làng, khi các nghệ nhân cuối cùng còn thuộc và nhớ sử thi ngày một yếu như ngọn nến trước gió - người ta chợt nhận ra rằng, nếu không kịp ghi lại và bảo tồn, rất có thể một ngày nào đó, những manh mối về sử thi Tây Nguyên chỉ còn là những vết mờ trong ký ức.
| Cách đây gần 80 năm một người Pháp tên là L.Sabatier đã công bố một viên ngọc tuyệt đẹp trong kho tàng văn học truyền miệng cứa các tộc thiểu số Đông Dương. Kiệt tác này đã khiến thế giới phương Tây phải khâm phục - đó chính là sử thi Đam San, một báu vật của núi rừng Tây Nguyên. Thập kỷ 1980-1990 là thời kỳ “phát hiện lại sử thi Tây Nguyên" với một số lượng tác phẩm đồ sộ được tìm thầy. Vào những năm 1960, một số nhà nghiên cứu văn hóa đã công bố tập “Trường ca Tây Nguyên” với các tác phẩm: Xinh Nhã, Đăm Di, Khinh Dú, Đăm Đơroan, Y Ban, Y Bơ rao - cộng với Đam San, số lượng sử thi Tây Nguyên được biết đã có tới bảy tác phẩm. Năm 1988, Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian lần đầu tiên phát hiện hệ thống sử thi đồ sộ Ot Ndrơng của người M’nông. |
Nhận ra tầm quan trọng của vấn đề này, Chính phủ giao cho Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên thực hiện Dự án: “Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên từ 2001-2007.
Nhiệm vụ của Dự án là: Tổng điều tra toàn bộ trữ lượng sử thi của địa bàn Tây Nguyên và kề cận; Sưu tầm các sử thi đang được nghệ nhân lưu giữ trong trí nhớ và truyền miệng; Biên dịch và xuất bản thành sách song ngữ 75 tác phẩm sử thi tiêu biểu (tiếng dân tộc và tiếng phổ thông); Bảo quản kho tàng sử thi Tây Nguyên dưới dạng băng tiếng, băng hình, văn bản.
Kết quả sau ba năm thực hiện, đã thu được 3143 băng thu (4.700 giờ diễn xướng) với 496 tác phẩm. Bởi sử thi (với tính chất truyền miệng) mang tính dị bản rất cao, nên tới giờ các nhà nghiên cứu cũng chưa thể thẩm định được rằng các bản ghi ấy có phải là sử thi tất cả hay không. Tuy nhiên, kết quả thu về cũng khiến các nhà sưu tầm phải ngạc nhiên về sự giàu có của kho tàng sử thi Tây Nguyên.
Ban chỉ đạo dự án quyết định lần lượt xuất bản các bộ sách của Kho tàng sử thi Tây Nguyên. Năm 2004, ba tác phẩm đầu tiên đã được ra mắt: Lênh nghịch đá thần của Yang; Cướp chiêng cổ Bon Tiăng, Udai-Uja.
Về ba tác phẩm mới được ra mắt này, ông Ngô Đức Thịnh- Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hoá, Giám đốc dự án nhấn mạnh: Đây với chỉ là bản dịch bước đầu, còn càng nhiều dị bản càng tốt. Cũng trong năm nay sẽ xuất bản tiếp 15 tác phẩm nữa.
Trong bộ sách chung "Kho tàng sử thi Tây Nguyên" sẽ chia thành các bộ nhỏ hơn như sử thi khan của Ê Đê, sử thi Ot Ndrong của M'nông, sử thi Akhatjukar của Raglai... Mỗi tập sách trên dưới 1.000 trang khổ 16x24cm sẽ công bố trọn vẹn một tác phẩm dự thi dưới dạng song ngữ: Tiếng dân tộc và tiếng phổ thông. Có thể mỗi tập sẽ in 2-3 tác phẩm của cùng một dân tộc và nếu tác phẩm nào có độ dài quá lớn sẽ in trong 2-3 tập. Bản phiên âm tác phẩm sử thi của dân tộc nào thì sử dụng bộ vần chữ sẵn có của dân tộc đó, nếu dân tộc chưa có chữ viết thì dùng bộ vần latinh tiếng phổ thông để phiên âm. Nguyên tắc chung là bản phiên âm tiếng dân tộc sao cho tương đối sát đúng với lời hát kể.
GS.TS Ngô Đức Thịnh - cho biết, chính ông và các cộng sự cũng không tiên liệu được bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên sẽ gồm bao nhiêu tập, bao nhiêu tác phẩm, vì vẫn còn những tác phẩm tiếp tục được hé lộ trong quá trình tìm kiếm.
Hiện đã có 65 tác phẩm được văn bản hóa. Nhưng điều khiến các nhà nghiên cứu và cả nhóm Dự án phải bó tay chính là việc phiên âm và dịch các băng diễn xướng ra tiếng phổ thông.
| Dự án "Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi TN" với sự tài trợ của Quỹ Ford triển khai từ tháng 3-2001 và kết thúc giai đoạn 1 vào tháng 3-2005. Năm tỉnh Tây Nguyên và 3 tỉnh phụ cận TN là Bình Phước, Bình Thuận, Phú Yên nằm trong danh sách dự án. Giai đoạn điều tra, khảo sát lập danh sách các nghệ nhân, lên danh sách sử thi tốn rất nhiều thời gian. Nhóm tác giả đã tiến hành quay phim, chụp ảnh và hiện đã có trong tay 3.143 băng (90 phút/băng) với 4.700 giờ diễn xướng. Giai đoạn 2 từ 2005-2007 là giai đoạn trọng tâm phiên âm, biên dịch, biên tập và xuất bản. |
Dự án có tiến triển được hay không phụ thuộc rất lớn vào phần "chuyên ngữ", nhưng các nhà khoa học lại không biết tiếng dân tộc, nhất là ngôn ngữ cổ sử dụng trong các bản sử thi. Trong khi đó những. nghệ nhân vừa kể được sử thi, vừa biết tiếng phổ thông lại quá hiếm hoi.
Hiện 60 sử thi Gia Rai được sưu tập vẫn nằm lưu trong kho băng vì chưa tìm được nghệ nhân nào biết tiếng phổ thông để dịch. Dân tộc M'nông có hàng trăm sử thi, nhưng chỉ có duy nhất nghệ nhân Nguyễn Điểu Kâu dịch được, nên mỗi khi nghệ nhân này "ấm người"- cán bộ dự án lại lo ngay ngáy. Sử thi các dân tộc khác cũng gặp tình trạng "ách lại ở khâu dịch" tương tự như vậy. Có nghệ nhân bập bõm tiếng phổ thông, nghe băng rồi đem trả lại cho Dự án với lý do "nghe thì hiểu nhưng không dịch được".