Ðây là khóa học đặc biệt chuyên dành chi viện cho chiến trường miền nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Họ đến từ nhiều địa bàn và môi trường công tác khác nhau, trải qua khóa bồi dưỡng ngắn ngày (1970-1971) rồi tỏa đi các chiến trường ác liệt và gian khổ: B1 (Trị Thiên); B5 và B3 (Khu Năm và Tây Nguyên); B2 (Nam Bộ); Khu VI, Lào. Trong số họ có người vĩnh viễn không trở về như các liệt sĩ Nguyễn Hồng, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn Kim, có người mất sau khi đất nước thống nhất như Nguyễn Ðệ (Hà Linh Chi), Trần Vũ Mai, Phạm Thị Loan, Triệu Bôn.
Sự gắn kết học viên khóa IV không chỉ trong công việc chuyên môn mà còn nhờ sợi dây tình cảm bền chặt suốt hơn 30 năm qua. Trong bài Cuộc hội ngộ 30 năm, nhà văn Dương Trọng Dật (hiện là Tổng biên tập báo Sài Gòn giải phóng) kể một chi tiết rất cảm động khi anh liên lạc với đồng chí Phạm Quang Nghị (hiện là Bộ trưởng Văn hóa-Thông tin) về dự cuộc gặp mặt của khóa IV tổ chức tại Hà Nội. Lúc đó anh Phạm Quang Nghị đang công tác ở Thái Nguyên, nhận tin liền trả lời "Phải về chứ. Vừa làm việc ở Thái Nguyên xong là mình xin phép tạm biệt ngay. Làm sao lại có thể vắng mặt trong ngày trọng đại này được".
Bệ phóng của khóa IV là chế độ xã hội chủ nghĩa, là nhà trường, là công lao của các thầy cô giáo văn chương. Lớp học đã được các nhà văn tài danh và nhiệt huyết đến truyền thụ nghề nghiệp - đó là các nhà văn Ðặng Thai Mai, Nguyễn Ðình Thi, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Văn Bổng, Hoàng Trung Thông, Kim Lân, Nguyên Hồng...
Nhà thơ Ngô Thế Oanh (hiện công tác tại tạp chí Sân khấu) trong bài thơ Tặng các bạn tôi ngày gặp mặt viết: Tất cả như rất đỗi tình cờ/Nhưng tất cả chính là số phận/Mùa xuân ấy con đường ra trận/Gắn kết cùng ta cho đến trọn đời...
Mùa xuân ấy, như lời nhà thơ Trần Thị Thắng (hiện công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam), dẫu biết trước con đường vạn dặm phía trước là chông gai, là nhiều hy sinh nhưng tất cả "không một ai phản bội đồng đội mình, nhân dân mình, Tổ quốc mình, nếu cần, sẵn sàng hy sinh, đã có ba người hy sinh, Nguyễn Hồng ở lại chặn giặc cho đồng đội rút lui, anh đã hy sinh bên khẩu súng không còn một viên đạn". Cùng trong khóa IV, Trần Thị Thắng và Lê Quang Trang, hai nhà thơ sau chiến tranh, đã nên vợ nên chồng. Anh Lê Quang Trang (hiện là Tổng biên tập báo Ðại đoàn kết) khẳng định: Những ngày tháng ở Trường Sơn là những ngày tháng đáng nhớ nhất trong cuộc đời người cầm bút.
Ðọc “Ra đi từ mùa xuân năm ấy”, thật xúc động để rồi nhận ra một chân lý giản dị: Nhà văn trong thời đại Hồ Chí Minh là "cùng xương cùng thịt" là "đổ mồ hôi sôi nước mắt" cùng với nhân dân mình. Tinh thần công dân cao cả, tính tích cực xã hội và trách nhiệm nặng nề của người cầm bút trước lịch sử, tất cả những phẩm giá ấy đã tạo nên bản lĩnh sống, bản lĩnh nghệ thuật của nhà văn.
Chính cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã tôi luyện các học viên khóa IV thành người và thành nghệ sĩ - như anh Phạm Quang Nghị đã viết: "Tôi mãi mãi biết ơn khóa IV Hội Nhà văn Việt Nam, nơi ấy đã mở ra cho lớp sinh viên trẻ chúng tôi niềm khát khao được thử thách và cống hiến. Chiến tranh đã đi qua, nhưng khói lửa chiến tranh đã rèn giũa chúng tôi thành người".
Ðọc “Ra đi từ mùa xuân năm ấy” cảm nhận được rõ ràng về chiến lược và phương pháp đào tạo các thế hệ nhà văn trong cách mạng và chiến tranh suốt 30 năm (1945-1975) của Ðảng và Nhà nước ta - trang bị cho nhà văn một vốn liếng lớn về tư tưởng, về văn hóa, về nghề nghiệp. Nhưng điều quan trọng không kém là sự dấn thân, nhập cuộc của nhà văn. Bài học đó các thế hệ tiền bối đã thấm nhuần và truyền lại cho các thế hệ sau. Con người nói chung và nhà văn nói riêng không thể thoát ly lịch sử, không thể tự nhốt mình trong các "tháp ngà" cô đơn. Với tư cách là một cá thể, nhà văn phải gắn mình với nhân dân và đất nước trong mọi bước thăng trầm lịch sử.