Quy chuẩn kỹ thuật: “Hàng rào” bắt buộc bảo vệ người tiêu dùng

Quy chuẩn kỹ thuật không đơn thuần là những giới hạn, yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm, hàng hóa. Đây là công cụ pháp lý bắt buộc giúp Nhà nước kiểm soát các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường, an ninh quốc gia và quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra minh bạch, công bằng.

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật có liên quan. (Ảnh: Tô Hội)
Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật có liên quan. (Ảnh: Tô Hội)

Mỗi đối tượng chỉ chịu sự điều chỉnh của một quy chuẩn quốc gia

Theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2025, quy chuẩn kỹ thuật quy định mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và các yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường cùng những đối tượng khác trong hoạt động kinh tế-xã hội phải tuân thủ.

Mục tiêu là bảo đảm an toàn, vệ sinh và sức khỏe con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích, an ninh quốc gia và quyền lợi người tiêu dùng. Quy chuẩn cũng phải phù hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với thương mại.

Khác với tiêu chuẩn mang tính tự nguyện áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật được cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật và bắt buộc thực hiện. Đây cũng là căn cứ để tổ chức đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và các đối tượng liên quan.

Một nguyên tắc đáng chú ý là mỗi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường hoặc đối tượng khác chỉ được điều chỉnh bởi một quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thống nhất trên phạm vi toàn quốc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quy định này nhằm hạn chế tình trạng một đối tượng cùng lúc chịu nhiều yêu cầu kỹ thuật khác nhau, gây chồng chéo, khó khăn cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Quy chuẩn kỹ thuật địa phương cũng không được đặt ra yêu cầu khác đối với cùng một đối tượng đã được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Đối với những sản phẩm, dịch vụ hoặc quá trình mang tính đặc thù, địa phương được ban hành quy chuẩn áp dụng trong phạm vi quản lý, phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn và trình độ phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn.

Ưu tiên yêu cầu về tính năng, hạn chế can thiệp vào thiết kế

Quy chuẩn kỹ thuật phải phù hợp thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, tính khả thi trong thực hiện và sự đồng bộ với hoạt động đánh giá sự phù hợp.

Quá trình xây dựng quy chuẩn phải có sự tham gia của cơ quan quản lý, tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp, cá nhân và các nhóm chịu tác động trực tiếp.

Đáng chú ý, cơ quan xây dựng quy chuẩn được yêu cầu ưu tiên quy định các yêu cầu kỹ thuật dựa trên tính năng của sản phẩm, hàng hóa; hạn chế những yêu cầu mang tính mô tả hoặc can thiệp quá sâu vào thiết kế chi tiết.

Cách tiếp cận này cho phép doanh nghiệp chủ động lựa chọn công nghệ, vật liệu và giải pháp sản xuất, miễn sản phẩm cuối cùng đáp ứng đầy đủ yêu cầu bắt buộc về an toàn, chất lượng và hiệu quả sử dụng. Qua đó, quy chuẩn vừa thực hiện vai trò kiểm soát rủi ro, vừa không thu hẹp không gian đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.

Căn cứ kế hoạch được phê duyệt, cơ quan có thẩm quyền tổ chức xây dựng quy chuẩn; đánh giá tác động, lấy ý kiến rộng rãi và thông báo tới Ban Thư ký Tổ chức Thương mại thế giới. Hồ sơ dự thảo phải được thẩm định trước khi ban hành.

Đối với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, cơ quan soạn thảo phải lấy ý kiến Bộ Khoa học và Công nghệ. Với quy chuẩn kỹ thuật địa phương, ý kiến của bộ quản lý ngành, lĩnh vực tương ứng là một trong những căn cứ cần thiết trước khi ban hành.

Trình tự rút gọn được áp dụng trong trường hợp khẩn cấp hoặc khi xuất hiện yêu cầu đột xuất, cấp bách liên quan đến quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cháy nổ và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn.

Quy trình này cũng có thể được áp dụng khi cần sửa đổi ngay quy chuẩn kỹ thuật để bảo đảm phù hợp quy chuẩn hoặc văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành.

Không chỉ ban hành, phải thường xuyên cập nhật

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật liên quan; thực hiện công bố phù hợp và bảo đảm sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ hoặc quá trình sản xuất đáp ứng đúng quy chuẩn đã công bố.

Nếu phát hiện những quy định không còn phù hợp hoặc phát sinh vướng mắc trong quá trình áp dụng, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kịp thời phản ánh, kiến nghị với cơ quan ban hành.

Cơ quan ban hành quy chuẩn phải trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến. Việc tạm ngưng hiệu lực của quy chuẩn được thực hiện theo pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Trong bối cảnh công nghệ, sản phẩm và mô hình kinh doanh liên tục thay đổi, quy chuẩn kỹ thuật không thể được xây dựng một lần rồi áp dụng trong thời gian dài mà thiếu rà soát. Hệ thống quy chuẩn cần thường xuyên được đánh giá, cập nhật để theo kịp những rủi ro và yêu cầu quản lý mới.

Khi được xây dựng trên cơ sở khoa học, minh bạch và khả thi, quy chuẩn kỹ thuật sẽ trở thành “hàng rào” bảo vệ sức khỏe, môi trường và quyền lợi người tiêu dùng. Đồng thời, đây cũng là công cụ tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng hàng hóa Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm