Những gốc tiêu 40 năm tuổi và “tấm căn cước” của vị cay xứ Tiên

Trên vùng đất gò đồi nhiều sỏi đá, những dây tiêu bản địa vẫn bám vào thân cây sống, len rễ sâu vào lòng đất và cho ra loại hạt nhỏ nhưng thơm, cay nồng. Chỉ dẫn địa lý “Tiên Phước” được bảo hộ mở ra cơ hội để sản vật lâu đời này vượt khỏi những phiên chợ địa phương, tiến đến thị trường rộng lớn hơn.

Hình ảnh hạt tiêu xanh, hạt tiêu đen, hạt tiêu trắng Tiên Phước. (Ảnh minh họa: Cục Sở hữu trí tuệ)
Hình ảnh hạt tiêu xanh, hạt tiêu đen, hạt tiêu trắng Tiên Phước. (Ảnh minh họa: Cục Sở hữu trí tuệ)

“Gia sản” giữa khu vườn xứ Tiên

Trong khu vườn gần 100 gốc tiêu của ông Nguyễn Văn Quá, 59 tuổi, ở thôn 5, xã Lãnh Ngọc, có hàng chục cây được trồng từ năm 1986, đến nay đã tròn 40 năm tuổi.

Những dây tiêu mẹ to bằng cổ tay người lớn, bám quanh thân cây sống, vươn từ gốc lên ngọn. Khi vào mùa, từng chùm quả mọc dày dưới tán lá xanh.

Với ông Quá, những gốc tiêu ấy là “gia sản” được gây dựng từ khi ông còn trẻ. Mỗi năm, vườn tiêu cho thu hoạch hơn nửa tạ hạt khô. Giá bán năm 2026 phổ biến từ 450.000–500.000 đồng/kg, có thời điểm đạt 600.000 đồng/kg, đem lại cho gia đình nguồn thu hàng chục triệu đồng mỗi vụ.

Những gốc tiêu hàng chục năm tuổi trong vườn ông Quá cũng cho thấy sức sống của giống tiêu bản địa đã gắn bó lâu đời với vùng đất Tiên Phước.

Người dân nơi đây thường cho tiêu bám vào các loại cây sống như lồng mức, sữa, ươi. Cách trồng này vừa tạo bóng mát, hạn chế tác động của nhiệt độ cao, vừa giữ nét đặc trưng của những khu vườn trung du xứ Quảng.

Đất khó làm nên vị cay riêng

Chất lượng của tiêu Tiên Phước được hình thành từ chính những điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi.

Khác với các vùng tiêu phát triển trên nền đất bazan màu mỡ, tiêu Tiên Phước được trồng trên địa hình gò đồi dạng bát úp hoặc lượn sóng, đất lẫn nhiều sỏi đá, hàm lượng hữu cơ thấp. Trong môi trường nghèo dinh dưỡng, bộ rễ cây tiêu, đặc biệt là giống tiêu sẻ bản địa, phải phát triển sâu và lan rộng để thích nghi.

Điều kiện sinh trưởng hạn chế khiến hạt tiêu Tiên Phước có kích thước nhỏ. Nhưng biên độ nhiệt giữa ngày và đêm khoảng 7–9°C, cùng số giờ nắng từ 200–255 giờ mỗi tháng trong giai đoạn tháng 3–8, lại giúp cây tăng khả năng quang hợp, tích lũy chất khô, piperin và tinh dầu.

Tiêu Tiên Phước có ba dạng sản phẩm gồm tiêu xanh, tiêu đen và tiêu trắng. Tiêu xanh có vị cay nhẹ; tiêu đen có vị cay rõ; còn tiêu trắng có vị cay nồng, với hàm lượng piperin từ 7,32–7,44%.

Chất lượng ấy còn được tạo nên bởi kinh nghiệm canh tác của người dân. Hàng tiêu được bố trí theo hướng đông-tây để tiếp nhận ánh sáng hợp lý, duy trì độ thông thoáng và hạn chế sâu bệnh. Phân chuồng, phân hữu cơ và phân vi sinh được sử dụng thường xuyên nhằm cải thiện đất và giúp bộ rễ phát triển.

Vì vậy, chỉ dẫn địa lý “Tiên Phước” không đơn thuần bảo hộ một tên gọi. Tên gọi này gắn với giống tiêu bản địa, điều kiện đất đai, khí hậu và phương thức canh tác đã hình thành tại vùng sản xuất qua nhiều thế hệ.

Có danh tiếng nhưng đầu ra vẫn hẹp

Tại thôn Tiên Tráng, xã Sơn Cẩm Hà, ông Trương Văn Dũng đang trồng 100 choái tiêu trên diện tích khoảng một sào theo hướng hữu cơ. Vườn tiêu đã cho thu hoạch hơn 10 năm, sản lượng đạt khoảng 70–90 kg/năm.

Với giá bán khoảng 500.000 đồng/kg trong năm 2026, vườn tiêu đem lại cho gia đình ông khoảng 45 triệu đồng mỗi năm.

Tuy nhiên, điều ông Dũng trăn trở là sản phẩm vẫn chủ yếu được bán qua các tiểu thương tại chợ địa phương. Tiêu Tiên Phước có chất lượng và giá trị cao nhưng chưa tiếp cận được thị trường tương xứng.

Đây cũng là vấn đề chung của vùng trồng. Sản xuất hiện vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, nguồn cung khó ổn định; trong khi thời tiết, sâu bệnh và chi phí đầu tư hệ thống tưới ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng diện tích.

Riêng tại xã Sơn Cẩm Hà, diện tích tiêu năm 2026 khoảng 30ha, trong đó khoảng 17,5ha đang cho thu hoạch.

Một số doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư quy mô lớn hơn. Tại Sơn Cẩm Hà, doanh nghiệp của ông Hồ Văn Ký phát triển vùng tiêu rộng hơn 3ha với 7.000 choái, có hệ thống tưới và liên kết thu mua sản phẩm của người dân tại Tiên Phước, Lãnh Ngọc, Thạnh Bình và Sơn Cẩm Hà.

Câu chuyện của ông Quá, ông Dũng và ông Ký cho thấy vùng tiêu Tiên Phước không thiếu những người quyết tâm giữ giống, giữ vườn. Điều còn thiếu là một hệ thống sản xuất, quản lý chất lượng và thị trường đủ mạnh để kết nối những khu vườn riêng lẻ thành vùng hàng hóa ổn định.

Dùng khoa học, công nghệ để giữ giống bản địa

Giai đoạn 2022–2025, ngành nông nghiệp địa phương đã triển khai mô hình sản xuất giống và trồng tiêu Tiên Phước theo hướng bền vững.

Theo kết quả công bố năm 2025, các đơn vị đã xây dựng vườn cây đầu dòng, vườn ươm có nhà lưới rộng 200m², đạt năng lực sản xuất khoảng 4.000 bầu tiêu mỗi vụ. Hom giống được lựa chọn từ cây đầu dòng nhằm bảo đảm chất lượng và hạn chế nguy cơ sâu bệnh.

Chương trình cũng tổ chức 5 lớp tập huấn về nhân giống, trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho 150 hộ dân cùng 15 cán bộ nông nghiệp.

Mô hình trồng tiêu bền vững thu hút 23 hộ tham gia, với diện tích 2ha và khoảng 2.200 choái tiêu. Sau ba năm, tỷ lệ cây sống tại các mô hình đạt khoảng 97%.

Việc làm chủ kỹ thuật nhân giống sạch bệnh có ý nghĩa quan trọng đối với một giống tiêu khó trồng, dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết và sâu bệnh. Đây là nền tảng để mở rộng vùng nguyên liệu mà vẫn giữ được những đặc tính riêng của tiêu bản địa.

Ngày 29/4/2026, Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 179/QĐ-SHTT, cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00152 cho sản phẩm hạt tiêu “Tiên Phước”.

Khu vực bảo hộ hiện thuộc các xã Tiên Phước, Lãnh Ngọc, Thạnh Bình và Sơn Cẩm Hà của thành phố Đà Nẵng. Ủy ban nhân dân xã Tiên Phước là đầu mối tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý; Ủy ban nhân dân ba xã còn lại phối hợp quản lý.

Tại lễ công bố ngày 25/5/2026, Ủy ban nhân dân xã Tiên Phước đã trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho 20 tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hạt tiêu trong vùng bảo hộ. Địa phương đồng thời ban hành quy chế quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý để kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương hiệu.

Như vậy, không phải sản phẩm hạt tiêu nào cũng được sử dụng tên gọi “Tiên Phước”. Sản phẩm phải được sản xuất trong khu vực bảo hộ và đáp ứng các yêu cầu về nguồn gốc, giống, quy trình canh tác cũng như chất lượng đặc thù.

Đối với người trồng tiêu, chỉ dẫn địa lý là cơ sở pháp lý để bảo vệ tên tuổi sản phẩm. Nhưng để văn bằng bảo hộ thực sự tạo ra giá trị, vùng tiêu vẫn phải giải quyết đồng thời các bài toán về giống sạch bệnh, quy trình sản xuất thống nhất, truy xuất nguồn gốc, nguồn cung ổn định và thị trường tiêu thụ.

Từ những gốc tiêu 40 năm tuổi trong khu vườn ông Quá đến chỉ dẫn địa lý số 00152 là hành trình của một sản vật được gìn giữ bằng kinh nghiệm, khoa học và tâm huyết của người dân.

Chỉ khi chất lượng được kiểm soát và tên gọi được sử dụng đúng, “Tiên Phước” mới thực sự trở thành lời cam kết về nguồn gốc, danh tiếng và vị cay riêng của hạt tiêu xứ Tiên.

Có thể bạn quan tâm