Năm 1945, toàn tỉnh chỉ có số dân hơn một triệu người nhưng lúc nào cũng thiếu thốn, đói khổ. Cuốn "Lịch sử Ðảng bộ Thái Bình 1927-1954" ghi rõ: "Mùa lũ năm 1945, chín tỉnh đồng bằng Bắc Bộ bị lụt, Thái Bình là tỉnh bị nặng nhất: Cùng một lúc hai quãng đê trên sông Hồng thuộc địa phận làng Ðìa (Hưng Nhân) và làng Mỹ Lộc (Thư Trì) bị vỡ, hầu hết các phủ huyện trong tỉnh bị lụt, nước tràn về, lúa và hoa màu mất gần hết, tài sản và tính mạng của nhân dân vùng đầu nguồn nước bị tổn thất nặng nề, khả năng một nạn đói mới có thể tái diễn". Nói là tái diễn bởi vì trước đó, do hậu quả của chế độ thống trị tàn bạo của Pháp - Nhật, nạn đói khủng khiếp vào tháng 3 năm 1945 đã làm cho dân ta chết đói hơn hai triệu người, trong đó tỉnh Thái Bình bị chết đói hơn 280 nghìn người.
Theo số liệu năm 1945 của Viện Kinh tế thuộc Ủy ban Khoa học và Xã hội Việt Nam cho biết, số thóc thu được của các tỉnh còn lại không bị ngập lụt ở miền bắc năm ấy chỉ nuôi sống được tám triệu người trong vòng ba tháng.
Từ ngày hòa bình lập lại, tình trạng ngập lụt ở Thái Bình dần dần được khắc phục bằng hệ thống thủy lợi mỗi năm được cải tạo và nâng cấp bằng các nguồn vốn của trung ương và địa phương. Trải qua hàng trăm năm, việc trị thủy, khai hoang, lấn biển đã thật sự trở thành vấn đề cấp bách thường xuyên của nhiều thế hệ cư dân Thái Bình. Bằng sức lao động cần cù, bền bỉ và sáng tạo, người dân Thái Bình đã giành giật với thiên nhiên, biến miền đất hoang dã ngập mặn thành phì nhiêu, màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, từ những năm 80 của thế kỷ trước, toàn tỉnh Thái Bình vẫn còn hơn 32 nghìn ha đất xấu, năng suất lúa hằng năm ở các vùng đất này chỉ đạt từ 40 đến 45 tạ/ha.
Sau hơn 20 năm đổi mới, đồng ruộng và nông thôn Thái Bình đã có nhiều thay đổi nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Ðảng và Nhà nước đối với sản xuất nông nghiệp. Từ một vùng độc canh cây lúa với phương thức canh tác lạc hậu, nông nghiệp Thái Bình đã đi vào sản xuất hàng hóa, có nhiều sản phẩm với sản lượng lớn và chất lượng cao. Bình quân mỗi năm Thái Bình đầu tư cho sản xuất nông nghiệp là 125 tỷ đồng, trong đó chi cho thủy lợi là 100 tỷ đồng, thủy sản năm tỷ đồng và trồng trọt, chăn nuôi là 20 tỷ đồng. Những giống lúa ngắn ngày có giá trị kinh tế cao đang thay thế dần những giống lúa dài ngày hiệu quả thấp. Thái Bình là tỉnh đầu tiên trong cả nước đi đầu thực hiện công nghiệp hóa sản xuất giống cây trồng. Năng suất lúa cứ tăng dần theo các năm lên bảy tấn, chín tấn rồi mười tấn và ổn định từ 12 đến 13 tấn. Từ năm 1995 đến nay, hằng năm tỉnh liên tục đạt hơn một triệu tấn thóc với mức bình quân 625 kg/người.
Ðến hết năm 2008, toàn tỉnh đã thực hiện chuyển đổi cây trồng, vật nuôi được hơn tám nghìn ha, chiếm hơn 10% diện tích canh tác; đồng thời xây dựng bảy khu chăn nuôi tập trung và 16 vùng nuôi trồng thủy, hải sản với hơn 80 ha ở tất cả tám huyện, thành phố trong tỉnh. Số hộ nghèo của Thái Bình hiện nay chỉ còn hơn 10%. Hầu hết các thôn, làng của nông thôn trong tỉnh hiện nay đều có nhà văn hóa phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng, các buổi phổ biến ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật của việc gieo trồng và chăn nuôi các loại giống cây, con mới. Cùng với việc phát triển nông nghiệp, tỉnh Thái Bình đang tiến hành xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới, sản xuất hàng hóa tập trung phát triển theo hướng CNH, HÐH. Có cơ sở hạ tầng sản xuất, hạ tầng văn hóa-xã hội phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong cộng đồng được cải thiện và nâng cao. Thái Bình trong năm 2009 này có bảy khu công nghiệp đã hình thành với tổng diện tích 950 ha.
Ở tất cả tám huyện, thành phố trong tỉnh đã hoàn thành quy hoạch 15 cụm công nghiệp với tổng diện tích gần 600 ha và 18 điểm công nghiệp làng nghề với diện tích hơn 171 ha. Nghề và làng nghề ở Thái Bình vẫn không ngừng ổn định và phát triển, toàn tỉnh đã có 219 làng nghề đủ tiêu chuẩn.
Các vùng nông thôn trong tỉnh Thái Bình bây giờ đã hoàn thành các chương trình điện, đường, trường, trạm, thông tin và nước sạch. Hơn 1.700 km đường giao thông nông thôn được trải nhựa hoặc bê-tông hóa. 100% số hộ nông dân trong tỉnh được sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt, nhiều vùng đã sử dụng đèn chiếu sáng các tuyến đường nông thôn. Tất cả các trạm y tế xã được chuẩn hóa và có bác sĩ là người địa phương. Hầu hết các trường học ở cả bốn cấp được xây hai, ba tầng, bảo đảm nơi nào cũng có trường, lớp khang trang và an toàn. Tất cả trẻ em trong tỉnh được đến trường đúng độ tuổi. Năm học 2008-2009 vừa qua, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT của tỉnh đạt 96,73%, cao thứ ba toàn quốc; bổ túc THPT đạt hơn 90%, đứng thứ nhất toàn quốc.
Tuy nhiên, nông thôn Thái Bình hiện vẫn còn rất nhiều việc phải làm cả trước mắt cũng như lâu dài. Ðó là giải quyết việc làm cho nông dân vùng bị lấy đất làm nhiều khu công nghiệp; vấn đề môi trường bị ô nhiễm ở cả thành thị và nông thôn; việc đào tạo nghề, giải quyết việc làm ở địa phương chưa đáp ứng nhu cầu xã hội...
Xưa, Thái Bình có nhiều người dân nghèo đói. Hôm nay, hầu hết mọi người dân đang thực hiện xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu. Có một niềm vui là sau nhiều năm chống đỡ với thiên nhiên ở một tỉnh thuần nông, Thái Bình đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ tích lũy được nhiều kinh nghiệm về áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào đồng ruộng. Ðã nhiều thập kỷ đã qua, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp quan tâm chăm lo giải quyết những vấn đề bức xúc của nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhằm không ngừng ổn định sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người nông dân.
VŨ KIỂM