Quản lý tập thể quyền tác giả trong môi trường số

Chuyển đổi số đang đặt hoạt động quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan trước yêu cầu đổi mới về cơ chế, dữ liệu và phương thức vận hành, hướng tới thị trường bản quyền minh bạch, hiệu quả.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để nhằm phát triển bền vững nền văn hóa số Việt Nam. (Ảnh: THẾ ĐẠI)
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để nhằm phát triển bền vững nền văn hóa số Việt Nam. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Số liệu của Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) cho thấy, năm 2025, doanh thu tiền sử dụng tác quyền đạt khoảng hơn 424,3 tỷ đồng, tăng 8% so năm trước. Trong đó, nguồn thu từ website và các ứng dụng số đạt gần 298 tỷ đồng. Quy mô nguồn thu cho thấy môi trường số đang trở thành thị trường khai thác quyền quan trọng.

Khi phương thức khai thác tác phẩm thay đổi, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động quản lý quyền cũng cao hơn. Các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan (CMO) có vai trò kết nối chủ thể quyền với tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tác phẩm, hỗ trợ việc cấp phép, thu và phân phối tiền bản quyền.

Theo ông Quản Tuấn An, Trưởng phòng Quản lý và Hợp tác quốc tế, Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện Việt Nam có 6 tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan. Tại Hội thảo "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số-Khơi thông điểm nghẽn, phát triển văn hóa số" do Báo Nhân Dân tổ chức ngày 27/8/2026 tại Hà Nội, ông An đã có tham luận "Hoàn thiện cơ chế về tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan trong bối cảnh chuyển đổi số", tập trung vào yêu cầu hoàn thiện thể chế, dữ liệu và phương thức hoạt động của các tổ chức quản lý tập thể.

Theo đó, cơ sở dữ liệu giữa các tổ chức quản lý tập thể hiện còn phân mảnh, trong khi một số khâu đối soát vẫn được thực hiện thủ công. Đây là vấn đề cần sớm được khắc phục khi số lượng tác phẩm, lượt khai thác và nguồn thu từ môi trường số ngày càng tăng.

278-pb-3-dsc.jpg
Ông Quản Tuấn An, Trưởng phòng Quản lý và Hợp tác quốc tế, Cục Bản quyền tác giả, trình bày tham luận về tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan trong bối cảnh chuyển đổi số. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Trong quản lý quyền, dữ liệu là cơ sở để xác định tác phẩm, tác giả, chủ sở hữu quyền, phạm vi quyền được ủy quyền và việc khai thác tác phẩm. Một tác phẩm có thể có nhiều chủ thể quyền, được sử dụng trên nhiều nền tảng và phát sinh các khoản thu ở nhiều thời điểm khác nhau. Nếu thông tin không được chuẩn hóa, kết nối và cập nhật, quá trình xác minh quyền sẽ mất nhiều thời gian, kéo theo khó khăn trong đối soát và phân phối tiền bản quyền.

Vấn đề đặt ra là hình thành hệ thống dữ liệu đủ tin cậy để các khâu quản lý quyền có thể vận hành thống nhất, từ xác định chủ thể quyền, phạm vi ủy quyền đến cấp phép, thu và phân phối tiền bản quyền. Theo hướng này, chuyển đổi số trong quản lý tập thể quyền tác giả cần được nhìn nhận từ yêu cầu đổi mới phương thức quản trị. Việc đưa nghiệp vụ lên môi trường điện tử mới là bước đầu; quan trọng hơn là chuẩn hóa dữ liệu về tác phẩm và quyền đối với tác phẩm, bảo đảm khả năng cập nhật, truy xuất và kết nối giữa các hệ thống.

Các chuyên gia cho rằng quản trị dữ liệu của các tổ chức quản lý tập thể cần được xác định là một nghĩa vụ pháp lý cốt lõi. Dữ liệu về quyền được ủy quyền phải bảo đảm tính chính xác, khả năng truy xuất; từng bước áp dụng các mã định danh tương thích với tiêu chuẩn quốc tế.

Yêu cầu này liên quan trực tiếp đến quyền lợi của cả người sáng tạo và người sử dụng. Chủ thể quyền cần biết quyền của mình được quản lý trong phạm vi nào, tác phẩm được khai thác ra sao và nguồn thu được phân phối như thế nào. Người sử dụng cũng cần xác định rõ chủ thể có quyền cấp phép, phạm vi sử dụng và nghĩa vụ tài chính.

Cùng với quản trị dữ liệu, trách nhiệm giải trình của các tổ chức quản lý tập thể cần được chuẩn hóa. Theo ông Quản Tuấn An, cần tăng cường báo cáo điện tử, khả năng liên thông thông tin và các phương thức quản lý phù hợp với môi trường số. Đây là cơ sở nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời tạo niềm tin giữa tổ chức quản lý tập thể, chủ thể quyền và bên sử dụng tác phẩm.

Minh bạch cần được đặt ra từ quá trình xác định chủ thể quyền, phạm vi ủy quyền đến cấp phép, thu và phân phối tiền bản quyền. Khi thông tin rõ ràng, thời gian tìm kiếm, xác minh quyền được rút ngắn, chi phí giao dịch có điều kiện giảm, việc khai thác tác phẩm hợp pháp cũng thuận lợi hơn.

Cùng với hạ tầng dữ liệu, hoàn thiện cơ chế pháp lý là yêu cầu quan trọng đối với hoạt động quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường số. Giới chuyên môn khuyến cáo, cần tiếp tục làm rõ địa vị và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân được chủ thể quyền ủy quyền cấp phép; tăng cường phối hợp giữa các tổ chức quản lý tập thể; đồng thời hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các thỏa thuận đại diện đối ứng với tổ chức quản lý tập thể ở nước ngoài. Đây cũng là cơ sở để quyền của chủ thể nước ngoài được quản lý, khai thác tại Việt Nam theo các thỏa thuận phù hợp.

278-pb-4-dsc.jpg
Ông Trần Văn Trí, Giám đốc Công ty cổ phần Truyền thông Luật Việt Nam chia sẻ về chủ đề "Quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo". (Ảnh: TITC)

Cơ chế "cấp phép tập thể mở rộng (ECL - Extended Collective Licensing)" đối với một số lĩnh vực đặc thù đã được đề xuất tại các cuộc hội thảo. Điểm đáng chú ý của ECL nằm ở hiệu lực mở rộng của giấy phép tập thể. Với cơ chế cấp phép tập thể thông thường, tổ chức quản lý tập thể thực hiện cấp phép trên cơ sở quyền được tác giả, chủ sở hữu quyền ủy quyền. Trong khi đó, ECL, trong phạm vi và điều kiện do pháp luật quy định, cho phép hiệu lực của giấy phép được mở rộng tới các chủ thể quyền cùng loại chưa trực tiếp ủy quyền cho tổ chức quản lý tập thể.

Cơ chế này hướng tới các trường hợp có số lượng lớn tác phẩm và chủ thể quyền, khiến việc tìm kiếm, xác định và xin phép từng chủ thể trở nên tốn kém hoặc khó thực hiện trên thực tế. Khi đó, tổ chức quản lý tập thể có thể trở thành đầu mối cấp phép theo phạm vi được pháp luật xác định, qua đó giảm chi phí giao dịch và tạo thuận lợi cho việc khai thác tác phẩm hợp pháp.

ECL không phải cơ chế cho phép sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép hoặc không phải trả tiền bản quyền. Điểm thay đổi nằm ở phạm vi đại diện và hiệu lực của giấy phép. Quyền và lợi ích kinh tế của chủ thể quyền vẫn phải được bảo đảm thông qua các điều kiện về năng lực, tính đại diện của tổ chức quản lý tập thể, phạm vi quyền được cấp phép, công khai thông tin, thu và phân phối tiền bản quyền cùng các cơ chế bảo vệ quyền của chủ thể quyền.

Đây cũng là điểm cần được nghiên cứu kỹ khi đặt ECL trong điều kiện Việt Nam. Cơ chế này cần giải quyết được bài toán cấp phép đối với số lượng lớn tác phẩm, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sáng tạo. Phạm vi áp dụng, loại quyền, lĩnh vực sử dụng và điều kiện đối với tổ chức quản lý tập thể cần được xác định rõ trong quá trình hoàn thiện pháp luật.

ECL đang được đề xuất nghiên cứu ứng dụng đối với một số lĩnh vực đặc thù, trong đó có những trường hợp việc sử dụng tác phẩm với số lượng lớn khiến cơ chế cấp phép riêng lẻ gặp khó khăn. Đây là hướng cần được tiếp tục đánh giá trên cơ sở đặc thù từng loại quyền, nhu cầu của thị trường và yêu cầu bảo vệ chủ thể quyền.

Thực tiễn khai thác tác quyền âm nhạc cho thấy nguồn thu từ thị trường số đang có quy mô đáng kể. Tuy nhiên, để dòng tiền này đến đúng chủ thể quyền, hệ thống quản lý phải theo kịp tốc độ và phương thức khai thác tác phẩm. Tác phẩm được sử dụng trên càng nhiều nền tảng thì yêu cầu xác định chính xác chủ thể quyền, ghi nhận việc sử dụng và phân phối nguồn thu càng cao. Nếu dữ liệu thiếu đồng bộ, các khâu này đều có thể phát sinh độ trễ.

Bởi vậy, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, chuẩn hóa thông tin về quyền, tăng cường liên thông giữa các tổ chức quản lý tập thể và hoàn thiện cơ chế cấp phép là nhiệm vụ có tính nền tảng. Cùng với đó là nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ trong theo dõi khai thác và đối soát tiền bản quyền.

Từ hoạt động quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan, yêu cầu này đặt ra trên cả ba phương diện: thể chế, dữ liệu và phương thức quản trị. Dữ liệu phải đủ chính xác để nhận diện quyền; pháp luật phải đủ rõ để xác định trách nhiệm; cơ chế quản lý phải có khả năng thích ứng với phương thức khai thác mới.

Hoàn thiện cơ chế quản lý tập thể vì thế cũng là một phần của quá trình hình thành thị trường quyền tác giả, quyền liên quan chuyên nghiệp, minh bạch, tạo điều kiện để giá trị sáng tạo được ghi nhận và đóng góp vào sự phát triển của văn hóa số.

Có thể bạn quan tâm