Lưu trữ bằng công nghệ tiên tiến
Các nhà nghiên cứu chuyên ngành cho rằng, việc xây dựng được cơ sở dữ liệu về căn cước thống nhất, duy nhất sẽ tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về căn cước công dân (CCCD). Từ đó hạn chế tình trạng giả mạo CCCD, làm giả giấy tờ CCCD, phát hiện các trường hợp tội phạm, phục vụ công tác điều tra, góp phần bảo đảm an ninh, TTAT xã hội. Nhìn từ thực tiễn nhiều năm qua, rất nhiều quốc gia đã ứng dụng và nâng cấp công nghệ để lưu trữ các dữ liệu CCCD, tích hợp điện tử thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về CCCD quốc gia.
Theo các tài liệu tham chiếu từ kinh nghiệm nước ngoài, một số quốc gia sử dụng công nghệ tích hợp thông tin và hệ thống nhận dạng sinh trắc học tiên tiến để ứng dụng thẻ căn cước vào nhiều tiện ích khác nhau. Ðiển hình tại châu Á là Ma-lai-xi-a, thẻ Mykad cấp cho công dân tích hợp bốn thẻ, bao gồm: Căn cước, bằng lái xe, thông tin hộ chiếu và thông tin sức khỏe.
Ðáp ứng nhu cầu phát triển, mô hình Mykad còn được cải tiến, tích hợp thêm bốn thông tin điện tử khác là: Ví điện tử, truy cập ATM, ứng dụng dùng để di chuyển và sử dụng để giao dịch điện tử. Mykad được sử dụng như ví điện tử để thanh toán những khoản tiêu dùng nhỏ và cũng được sử dụng để giao dịch với cơ quan chính phủ. Nó cũng được sử dụng như là thẻ ATM cho phép có tài khoản tại ba ngân hàng, được sử dụng để thực hiện các giao dịch khác nhau. Nó được sử dụng để trả tiền vé xe bus, tàu điện ngầm, phí đỗ xe, cầu phà, điện thoại công cộng. Hoặc để thực hiện các giao dịch điện tử nộp, hoàn thuế, giao dịch ngân hàng trực tuyến và gửi thư điện tử an toàn. Mykad được tích hợp và xác nhận cơ sở dữ liệu mà chỉ có chủ sở hữu thẻ và các cơ quan chức năng có liên quan mới được quyền truy cập, đăng nhập thông tin.
Ở Thái-lan, thẻ được sử dụng như mã số thuế. Một số quốc gia phát triển khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ðức, thẻ căn cước thông minh được sử dụng như thẻ đa năng, cũng cho phép ứng dụng trong các dịch vụ công cộng, hành chính, xã hội... Xu hướng này rõ ràng đang mang lại nhiều tiện lợi cho người sử dụng và nhà quản lý. Do đó, các nước đang có xu hướng công nghệ hóa loại thẻ căn cước để ứng dụng đa dạng hóa mục đích sử dụng của thẻ căn cước.
Góp phần phòng, chống tội phạm
Ở nước ta, hoạt động cấp phát, quản lý chứng minh nhân dân (CMND) nhằm phục vụ nhu cầu đi lại và giao dịch của công dân, đồng thời, tăng cường phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp luật. Bộ Công an đã chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp quản lý, khai thác tàng thư CCCD . Theo đó, từng bước cải tiến, đổi mới công nghệ và đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác này.
Hiện nay, tàng thư CCCD đã lưu giữ hơn 57 triệu tờ khai, hơn 32 triệu danh chỉ bản của công dân thông qua việc thu thập khi làm thủ tục cấp CMND. Bên cạnh đó, đã phục vụ tra cứu cấp CMND hơn bảy triệu lượt; tra cứu phục vụ công tác nghiệp vụ của lực lượng Công an 2,2 triệu lượt; tra cứu lý lịch tư pháp và phục vụ yêu cầu của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân hơn 1,3 triệu lượt...
THEO báo cáo của Bộ Công an và khảo sát thực tế tại một số địa phương, Thường trực Ủy ban Quốc phòng - An ninh của QH nhận thấy, việc thực hiện chính sách, pháp luật về CCCD còn một số hạn chế, vướng mắc. Ðó là: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền một số địa phương tuy có nhiều tiến bộ nhưng chưa thật sự quan tâm, vẫn còn biểu hiện hình thức, nặng về chỉ tiêu, thành tích, có tư tưởng giao khoán cho lực lượng Công an. Công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, xử lý vi phạm còn hạn chế, chưa thường xuyên. Một số địa phương chỉ tập trung vào các đợt cao điểm.
Qua báo cáo thống kê của Bộ Công an, thông qua khai thác tàng thư căn cước phục vụ cấp CMND, đã phát hiện gần 434 nghìn trường hợp sai họ, tên, chữ đệm; hơn 473 nghìn trường hợp sai tuổi; gần 6.300 trường hợp giả mạo hồ sơ; 600 trường hợp làm giả hộ khẩu để xin cấp CMND; 13.320 trường hợp tráo người xin cấp CMND. Ngoài ra, nhiều trường hợp cấp sai đối tượng; không có hộ khẩu vẫn được cấp CMND; hơn 1,56 triệu trường hợp không có hồ sơ gốc; hơn 1 triệu 56 nghìn trường hợp thông tin không khớp với hồ sơ gốc; 422 nghìn trường hợp một người sử dụng nhiều CMND...
Các cơ quan quản lý cho rằng, những sai sót, vi phạm nêu trên chủ yếu do công tác quản lý tàng thư CCCD chưa đồng bộ, trang thiết bị lạc hậu, dẫn đến thất lạc, hư hỏng giấy tờ, hồ sơ gốc. Một số trường hợp cố tình làm giả, làm sai lệch hồ sơ, tráo người để che giấu, thay đổi thông tin cá nhân...
Xây dựng Luật Căn cước công dân nhằm bảo đảm sự đồng bộ với pháp luật về hộ tịch, cư trú, dữ liệu quốc gia về dân cư với trình tự, thủ tục cấp, đổi, cấp lại giấy tờ về CCCD đơn giản, thuận tiện, tránh phiền hà cho người dân. Trong tương lai, việc sử dụng thẻ CCCD theo công nghệ tiên tiến có khả năng tích hợp nhiều thông tin cần thiết, góp phần đơn giản hóa giấy tờ cho công dân, từng bước thực hiện Chính phủ điện tử.
| Theo số liệu báo cáo của Bộ Công an, việc khai thác tàng thư CCCD cũng đã cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu nghiệp vụ, phát hiện đối tượng truy nã, nhận diện đối tượng 29.376 trường hợp; truy tìm tung tích nạn nhân 39.424 trường hợp; phục vụ các yêu cầu nghiệp vụ khác 1.056.854 trường hợp. |