Trong Hội thi đàn ca tài tử, anh Hai Lợi (Phan Thắng Lợi), chuyên trách đàn tranh. Anh giải thích với tôi: "Ðàn tài tử có khi đàn một mình như độc tấu đàn kìm hay đàn tranh. Khi hòa đàn, nếu chỉ có hai nhạc cụ thì thông thường là đàn tranh hòa với đàn kìm hoặc đàn cò. Nếu hòa tấu ba cây thì gồm đàn tranh, đàn kìm và đàn cò. Nếu hòa tấu năm cây - còn gọi là ngũ tuyệt - thì gồm đàn tranh, đàn kìm, đàn cò, đàn độc huyền và đàn tỳ bà. Thỉnh thoảng có sáo hay ống tiêu cùng hòa vào, về sau có thêm ghi-ta phím lõm. Ðặc biệt là có song lang (hai thanh tre già) dùng để gõ vào nhau khi câu nhạc đến nhịp nhấn. Hiếm khi hòa đàn mà không có ca, vì vậy người ca có vai trò rất quan trọng", rồi Hai Lợi quay sang nói với Minh Thơ:
- Bây giờ tôi đàn, anh ca. Cứ ca đi, bài gì cũng được.
Minh Thơ nói:
- Vậy tôi ca bài Quê hương văn vật, bài này ca ngợi tài hoa của hai người con của Ô Môn là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và Trần Kiết Tường, theo điệu Nam Xuân.
Hai Lợi gật đầu, đưa mười ngón tay vuốt nhẹ lên phím đàn, rồi Hai Lợi "rao". Ðối với đàn ca tài tử, như thế gọi là "rao", chứ không phải "dạo". Ðàn tài tử mở đầu với những câu "rao" để thử dây, đồng thời thử đàn, giống như kỵ mã trước khi cưỡi ngựa thì ngồi ướm thử xem yên cương có đặt đúng chỗ và con ngựa có nổi chứng gì không. Câu "rao" của mỗi người hoàn toàn theo ngẫu hứng nên đàn mỗi cách khác nhau, chỉ cần theo đúng điệu thức đã chọn lựa. Sau đó mới dần dần đưa người nghe đi vào điệu thức, giống như hướng dẫn viên đưa du khách từng bước khám phá một khu vườn đẹp. Minh Thơ kéo ghế ngồi cạnh Hai Lợi, rồi ca: Ô Môn bốn mùa cây trái oằn sai - Nước ngọt quanh năm lúa mượt mà trĩu bông - Ôi quê hương mảnh đất rạng ngời - Những người con tài hoa một đời - Cầm kỳ thi họa tuyệt vời - Nhả cho đời những sợi tơ...
Tôi đã từng nghe nói về nghệ nhân Minh Thơ. Anh có nhiều năng khiếu sáng tác ca cổ, đàn, hát và cả viết văn, viết báo. Anh cũng khá am tường về cải lương, cổ nhạc. Theo Hai Lợi và Minh Thơ thì đàn ca tài tử Nam Bộ là một dòng nhạc dân tộc Việt Nam, hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Loại hình âm nhạc này thường trình diễn trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh hoạt văn nghệ, trong lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ... thường được trình diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng. Về trang phục, những người tham gia đàn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau nên thường chỉ mặc các loại thường phục khi tham gia trình diễn. Khi nào diễn ở đình, miếu hoặc trên sân khấu, họ mới mặc trang phục biểu diễn quy cách và mầu sắc hơn. Về bài bản thì đàn ca tài tử có rất nhiều, nhưng đa số các "thầy đàn" đều cho rằng có 20 bài "tổ" gồm sáu Bắc: Tây thi, Cổ bản, Lưu thủy trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn hay Xuân tình điểu ngữ; ba Nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo hay Ðảo ngũ cung; Tứ Oán: Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, Phụng hoàng; bảy bài lớn: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá. Những năm gần đây, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên các nhóm nhạc tài tử hợp lại với nhau thành câu lạc bộ đàn ca tài tử mang tính bán chuyên nghiệp. Bên cạnh nghề nghiệp chính, họ phục vụ văn nghệ khi có yêu cầu.
Nghe các anh lý giải, tôi nhớ có lần đã nghe Giáo sư Trần Văn Khê nhận xét chính xác về đàn ca tài tử Nam Bộ: "Chân phương hoa lá trong bài vọng cổ đã được áp dụng một cách thần tình. Hoa chẳng những đẹp mà còn thơm. Lá chẳng những xanh mà còn tươi. Thành ra bản Vọng cổ có cái tươi mát, đẹp đẽ, có cái phong phú, mà sức đóng góp của tất cả những nghệ sĩ, từ đứa con của bác Sáu Lầu sáng tạo, nuôi dưỡng cho nó lớn lên mạnh mẽ, đẹp đẽ". Vâng, có lẽ đó chính là sức hấp dẫn, làm say mê lòng người, ai biết rồi khó lòng bỏ qua được. Vì đó là một bộ phận của văn hóa Nam Bộ, của văn hóa Việt Nam.
"Chơi" đàn ca tài tử Nam Bộ phải là nơi có phong cảnh hữu tình, gợi cảm, gần với thiên nhiên, các tài tử thích "chơi" giữa cảnh cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi, giữa cảnh trời trăng mây nước, rừng xanh nước biếc, đồng ruộng mênh mông hay dưới bóng mát cây cổ thụ, lũy tre làng,... hay trên chiếc thuyền êm trôi theo dòng nước lồng lộng trăng, nên thơ và tĩnh mịch, hai bên bờ tiếng lá dừa nước rì rào dịu êm như tiếng nhạc, làm tăng vẻ hữu tình cho buổi đàn ca tài tử trên sông. Có người cho rằng chữ "tài tử" có nghĩa là không chuyên nghiệp, không phải nhà nghề. Nhưng thật ra ý nghĩa chữ "tài tử" ở đây là "người có tài" như trong câu "dập dìu tài tử giai nhân" (Kiều). Ngoài ra, "tài tử" còn ám chỉ việc không lấy đó làm nghề, không dùng tiếng đàn giọng hát làm kế sinh nhai mà chỉ để giải trí, gửi gắm tâm sự riêng, hay cùng với bạn đồng điệu hòa đàn cho người mộ điệu thưởng thức. Nhưng không phải vì vậy mà những người đàn ca tài tử có trình độ nghệ thuật thấp. Ngược lại họ tập luyện rất công phu, phải theo thầy học từ chữ nhấn, chữ chuyền, phải rao sao cho thật "mùi", sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng. Vì vậy, muốn trở thành người đàn ca tài tử đúng nghĩa phải trải qua một thời gian luyện tập khá công phu.
Hỏi chuyện, tôi mới biết Hai Lợi là Chủ nhiệm CLB đàn ca tài tử đã nhiều năm rồi. Những "ngón nghề" Hai Lợi có được hôm nay vốn gốc gác từ một gia đình có truyền thống ca vọng cổ, cải lương từ mấy đời truyền lại. Hai anh em Phan Thắng Lợi và Phan Việt Ấn (Sáu Ấn) nối nghiệp gia truyền nay đều làm việc ở Trung tâm văn hóa quận Ô Môn. Trước đây, ông Phan Hồng Phước (Sáu Phước), thân sinh của hai anh, nổi tiếng là một cây đàn cự phách, một giọng ca rất "mùi". Ông cùng thời với các "tài tử" nổi tiếng lúc bấy giờ như Cò Quốc, Cò Bằng, Trống Phước, Trống Hiệu... (chữ Trống và Cò ở đây xuất phát từ loại nhạc cụ mà nghệ nhân ưa dùng, và dùng rất giỏi là đàn cò, đàn trống). Do tay nghề thuộc loại "thiện nghệ", lại ham mê đàn ca tài tử, ông Sáu Phước xây dựng và dẫn dắt phong trào văn hóa - văn nghệ ở Ô Môn từ thời đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông Sáu Phước sáng tác nhiều bài vọng cổ, nhạc lễ, các bản ca tài tử ca ngợi quê hương Ô Môn tươi đẹp, ca ngợi con người Ô Môn trung dũng, kiên cường, hăng say lao động, giàu lòng mến khách. Ông Sáu Phước tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ. Năm 1968, ông hy sinh trong chiến dịch Mậu Thân.
Ðược ông truyền nghề, khơi sâu cảm hứng, cho đến bây giờ Hai Lợi cũng là tay đàn cự phách lâu năm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Không những có những "ngón đàn" được coi là "độc chiêu", Hai Lợi còn am tường, hiểu sâu về nhạc tài tử. Anh say mê, nhiệt tình khi làm Chủ nhiệm CLB đàn ca tài tử Ô Môn. Qua tâm sự, tôi mới biết Sáu Phước và Minh Thơ là anh em con cô con cậu. Vì thế, nay Hai Lợi và Sáu Ấn đều gọi Minh Thơ là chú, xưng cháu. Mỗi khi Minh Thơ nói, Hai Lợi cứ ngồi lắng nghe như trò nghe thầy. Minh Thơ nói một hồi về đàn ca tài tử ở quận Ô Môn, rồi nói đến sự ra đời và phát triển của CLB đàn ca tài tử tại Trung tâm văn hóa này. Theo nghệ nhân Minh Thơ, trước đây trên đất Ô Môn có nhiều CLB đàn ca tài tử nhưng hoạt động không thường xuyên, chủ yếu theo tùy hứng, không chuyên sâu về đàn và ca. Dân dã như thế, mộc mạc như củ khoai hạt thóc, ai thích chơi cứ đến câu lạc bộ.
Năm 2002, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức cuộc thi Ðàn ca tài tử toàn quốc, khu vực phía nam. Huyện Ô Môn lúc đó cử một đội đi dự thi, nhưng vì chuẩn bị thiếu bài bản, tổ chức phân vai chưa tương hợp, dẫn tới đội phải "về tay không", chẳng được giải gì. Từ đó, Ô Môn mới thành lập và nhanh chóng đưa vào hoạt động CLB đàn ca tài tử. Quan tâm và cố gắng làm rồi cũng có hiệu quả. Cuối năm 2002, Cần Thơ tổ chức Hội thi về thể loại này ở cấp tỉnh, đội Ô Môn đoạt giải xuất sắc, hai lần sau Ô Môn cũng đều đoạt giải xuất sắc. Trò chuyện với nhiều nghệ nhân ở CLB đàn ca tài tử Ô Môn, tôi hiểu thêm giá trị của đàn ca tài tử không chỉ dừng lại ở chất giọng, ngón đàn, ở phong trào sâu rộng, mà còn phải thể hiện ở tính kế thừa. Ở Ô Môn, hiện không chỉ có CLB đàn ca tài tử tại Trung tâm văn hóa quận, mà cả bảy phường và hàng chục khu phố trong quận đều có CLB đàn ca tài tử. Trong CLB đàn ca tài tử Ô Môn, các anh Minh Thơ, Hai Lợi đã thuộc diện "già". Khi tôi hỏi về lớp kế thừa hiện tại và trong tương lai, anh Hai Lợi giới thiệu với tôi các ca sĩ trẻ mới tham gia CLB, đó là Thùy Trang, Thùy Dung và nhiều người khác. Thùy Dung còn trẻ nhưng đã đoạt nhiều giải ở địa phương, lại đoạt thêm giải tư cuộc thi Giải Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền năm 2008. Hôm gặp tại CLB đàn ca tài tử, sau khi hát bài Hoa mua trắng để tặng chúng tôi, Thùy Dung nói: "Em và các đồng nghiệp trẻ cần phải học thêm nữa và sẽ gắn bó suốt đời với đàn ca tài tử, sân khấu cải lương". Vâng, sự cố gắng và niềm tin ấy có được chính là từ sự lan tỏa kỳ diệu của các "ngón đàn" giọng ca. Sự lan tỏa có được còn vì đây là mảnh đất tiềm ẩn sức sống từ nguồn cội của đàn ca tài tử bên dòng sông Hậu - dòng sông tần tảo nhưng rất hiền hòa và biết bao thơ mộng từ xưa đến nay.