Đường về Hà Tĩnh là đường đi trong câu hát. Từ đầu cầu Bến Thủy, nơi dòng Lam soi bóng Núi Hồng, nước non, non nước theo nhau quấn quýt, người xưa đã từng thốt lên “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, non xanh nước biếc như tranh họa đồ”; đã nghe đâu đó từ dưới bóng thông già hay con đò nhỏ bập bềnh sông nước một lời thương chan chứa nghĩa tình: “Chứ bao giờ Ngàn Hống hết cây, Sông Lam hết nước, thì đó đây mới hết tình”. Đến đỉnh Đèo Ngang, giữa Hoành Sơn Quan, xóm mạc hai bên xa cuối mắt nhìn; chỉ còn “cỏ cây chen đá, lá chen hoa”, thế mà lắng hồn lại vẫn nghe “Đèo Ngang hai mái chân vân, Người về Hà Tĩnh, dạ ái ân Quảng Bình”… Ai, ai ngày xưa đã nặng tình đến thế để nước non mãi chẳng chia lìa?
Anh lái xe của báo Nhân Dân, Cao Bá Quang, quê Hương Sơn, một lần nào đó đã lấy được từ Giám đốc Sở Văn hoá Hà Tĩnh Đức Ban mấy đĩa nhạc CD. Anh quý chúng như vàng. Và qua mỗi cung đường, anh lại mở cho cả đoàn nghe những bài hát thích hợp viết về vùng đất ấy, từ “Chào em cô gái Lam Hồng”, “Gửi sông La” , “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh”, “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ”…, “Người con gái sông La”, “Hà Tĩnh mình thương”… Một nữ phóng viên của Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội nhận xét: “Có lẽ Hà Nội, Huế, Hà Tĩnh là những nơi có nhiều bài hát hay nhất. Hà Nội là thủ đô nghìn năm văn hiến; Huế từng là kinh đô, có sông Hương núi Ngự man mác, có bài hát hay là phải. Vì sao Hà Tĩnh, một tỉnh nhỏ và nghèo lại có nhiều bài hát hay đến thế”?
Tôi ngồi ở ghế sau, không sao trả lời được câu hỏi của chị. Lòng mải theo câu hát “Tình sâu nghĩa nặng, biển ta lại nhớ rừng, nên chi giữa đồng bằng, gió ngàn bay về, tìm âm vang sóng vỗ. Ai đi xa mô đó, biết có nhớ lấy đường về, đường Đồng Lộc, đường Khe Giao, đường Hồng Lam rồi Đèo Ngang, Linh Cảm…”. Núi và biển, cảnh và người, lịch sử và hiện tại ấp ôm, quấn quýt. Tôi gặp được chữ nên chi. Mặt đất này khát khô nên chi trời xanh này đầy khát vọng? Con người này anh hùng, nghệ sĩ nên chi trăng sáng mài gươm, sông trang nhúng bút, đa cảm, đa tình? Non nước, khí phách đã không chỉ dừng ở một Đèo Ngang, Bến Thủy. Sống bốn phương vùng vẫy, chết làm áng mây về tụ Non Hồng. Nhạc sĩ An Thuyên mà tôi cho là xuất thần, khi viết về Hà Tĩnh “Sông cứ chảy trong ta, Núi cứ lớn trong ta… Đi xa càng muốn về, khổ đau càng muốn về”…
Tôi đang trở về mặt đất, lòng đất quê hương, đang lần bước trên những con đường tuổi nhỏ… Tôi đang trở về chính tôi. Cây có cội, nước có nguồn. Cành gần cội thì vững. Nước gần nguồn thì trong… Bao nhiêu cánh diều ngỡ đã bay cao hơn mặt đất, ngỡ đã chạm tới bầu trời mà không thấy được cả đời mình chỉ là sự lơ lửng, chênh chao…
Năm nay Hà Tĩnh kỷ niệm 40 năm chiến thắng Ngã ba Đồng Lộc. Nói đến Đồng Lộc, trước hết là nói đến sự ác liệt. Chỉ 20 cây số đường 15, từ Nga ba Lạc Thiện đến Đồng Lộc đã có hàng chục trọng điểm: Đức Lâm, cầu Chợ Giấy, cầu Đùng Đùng, cống 19, cầu Cơn Bạng, cầu Tùng Cốc, Đồng Lộc… bị địch ném bom suốt ngày đêm, chỉ nghỉ phút chứ không nghỉ giờ vào năm 1968, năm mà quốc lộ 1 vùng Hà Tĩnh bị cắt đứt, năm mà Giôn-xơn thực hiện ném bom hạn chế miền bắc, dành cho khu bốn cũ sức mạnh tột cùng của không lực Hoa Kỳ, ngày bị đánh bom nhiều nhất trên cung đường này là 103 lượt, 800 quả bom, chưa kể rốc-két và đạn 20 ly.
Nói đến Đồng Lộc là nói đến một di tích đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Tôi vẫn thường suy nghĩ vì sao Đồng Lộc lại được chọn, được trở thành một di tích lịch sử đặc biệt? Không do ý muốn của một ai. Đó là sự lựa chọn của nhân dân, của lịch sử. Tôi đã đến Truông Bồn, đến đường 20 Quyết Thắng, đến Thạch Hãn, Củ Chi và Điện Bàn đau thương khôn xiết và anh dũng tuyệt vời, nơi nào cũng đáng chiêm ngưỡng và bái phục.
Đồng Lộc có cái riêng, đó là giao điểm của tiền tuyến và hậu phương; là nơi tập trung cao độ những chiến công và sự hy sinh vô bờ bến của các lực lượng quân đội, công an, TNXP, công nhân và người nông dân miền bắc. Sự hy sinh của mười cô gái đã thành biểu trưng cho sự mất mát trong chiến tranh, biểu tượng cho lẽ sống cao đẹp của tuổi trẻ Việt Nam. Mới đây, nhật ký Đặng Thùy Trâm, nhật ký Nguyễn Văn Thạc… được khơi dậy, làm cho thế giới thấy rõ rằng, Việt Nam thắng Mỹ trong cuộc chiến tranh vừa qua, chính là sự chiến thắng của con người, của văn hoá. Điều đó sáng lên ở Đồng Lộc, trong mỗi con người. Không ai trở thành huyền thoại, mà trở thành nước mắt, dòng máu anh hùng từ quá khứ chảy tới hôm nay.
Câu chuyện Đồng Lộc không phải bắt đầu từ ngày thứ tư, 24-7, (ngày 29-6 Mậu Thân 1968), tức là bắt đầu từ cái chết. Ngày ấy, tất cả các tiểu đội của đại đội TNXP 552 do đại đội trưởng Nguyễn Thế Linh chỉ huy đều ra mặt đường, trừ một số đi đẵn gỗ làm hầm. Tiểu đội 4 của chị Võ Thị Tần vừa lấp xong một hố bom ăn vẹt mặt đường thì máy bay địch ào tới. Bom nổ ngút trời. Tiểu đội 4 lao xuống ba hố bom cũ. Đất đá mù mịt, phủ đầy người nhưng các chị vẫn thoát. Chị Tần nhanh nhẹn thu quân, chuyển về phía chân núi để đào hầm. Họ vừa làm vừa hát. Người hay hát nhất là chị Trần Thị Hường được mệnh danh là “sơn ca”. Hường vừa hát xong bài “Ngọn đèn đứng gác”, cả tiểu đội đang đồng ca bài “Bước chân trên dài Trường Sơn” thi lại máy bay. Lại bom. Chị Tần đứng ở cửa hầm vừa đếm bom, vừa cảnh giới nhắc nhở chị em phòng tránh. Pháo cao xạ ta nổ giòn, vây riết tốp máy bay, khiến chúng phải hoảng loạn cút thẳng về phía biển. Mấy chị em rúc rích cười, chửi tổ cha thằng Mỹ làm bẩn tóc của các chị! Một ngày bom đạn nữa đã trôi qua. Đêm nay lại một đêm trời đầy sao, còn những bức thư và trang nhật ký viết dở… Riêng chị Xuân còn một bức thư của người yêu từ chiến trường đang kẹp trên mái tóc chưa kịp đọc dòng nào. Sắp được đọc và viết thư cho anh rồi. Tối nay mình sẽ bắt đầu bức thư cho anh như thế nào nhỉ? À, đơn giản thế này thôi: “Chúng em vừa đi qua một ngày kỳ diệu nữa. Sáng bom, chiều bom mà chỉ làm bẩn của bọn em vài sợi tóc. Đường vẫn thông. Tất cả các đoàn xe và đoàn quân vẫn hướng về trong đó, về phía anh. Cứ nghe nhịp chuyển quân, em biết ngày chiến thắng đang đến gần, rất gần”… Bỗng một chiếc máy bay địch bất thần quay lại, trút ào xuống Đồng Lộc một loạt bom. Một quả rơi thẳng vào A4, cả tiểu đội hy sinh. Lúc ấy là 16 giờ 40 phút. Riêng chị Hồ Thị Cúc, mãi ba ngày sau mới tìm được trên lưng đồi Trọ Voi, cánh hố bom chừng 20 mét trong tư thế ngồi, đầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc, 10 đầu ngón tay ứa máu như đã bới đất để tìm đường ra… Những ngày đi tìm xác chị, đồng đội đã khóc không biết bao lần:
Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang
Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp
Chín bạn quây quần đủ hết
Nhỏ, Xuân, Hà, Hường, Hợi, Rạng, Xuân, Xanh
A trưởng Võ Thị Tần đã điểm danh
Chỉ thiếu mình em
Chín bỏ làm mười răng được
Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng…(Yến Thanh)
Chúng tôi đã tìm đến chị Lê Thị Hồng, một đội viên còn sống sót của A4, hiện sống tại xóm Vinh Tân, TP Vinh. Chị đã khóc quá nhiều đồng đội, nhưng bây giờ nhắc đến chị Cúc, chị lại nức nở. A4 hay hát, hay viết thư và thương nhau chị em ruột thịt. Chị Cúc, A phó là người thương yêu, nhường nhịn, chăm sóc mọi người hơn cả. Chị Cúc một tuổi mất cha, bốn tuổi mất mẹ, phải ở với ông rồi với chú mự. Tám tuổi chẳng may bị nồi cám lợn đổ lên lưng, hôn mê ba tháng liền, khi khỏi để lại một vết sẹo chạy dài từ bả vai đến thắt lưng, không bao giờ dám tắm chung với chị em khác. Sống khổ, chết cũng khổ hơn người. Gần đây, Ban quản lý Khu di tích Nga ba Đồng Lộc thu thập được nhiều tư liệu mới, trong đó có thư của chị Cúc gửi về cho chú mự: “Chú mự ơi, vì nhiệm vụ, vì Tổ quốc dân tộc con phải xa chú mự và các em. Hằng ngày, trong những lúc công tác, trò chuyện với bạn bè, không đi làm thì thôi, dừng lại hoặc làm gì một mình là tâm trí con cứ tưởng tượng kính nhớ chú mự và các em đang ở bên mình con. Vì người ta có cha, có mẹ, cha chết thì có mẹ hoặc có anh chị em ruột sinh ra, mà con chỉ có chú mự là người thay thế cha mẹ và đàn em, nên con không bao giờ khỏi tâm niệm đến chú mự và các em…”.
Các chị nữ TNXP ở A4, người học lớp ba, người lớp năm, lớp bảy, nhưng thật lạ lùng, ai viết thư cũng đầy chất nhân văn và giàu tính triết lý, lúc nào đọc cũng xúc động và thuyết phục. Đấy là sự thuyết phục của một tình cảm lớn, một thời đại lớn. Năm ngày trước khi hy sinh, chị Võ Thị Tần viết thư về cho mẹ ở Thiên Lộc: “Trong thời gian chúng con làm, máy bay giặc có đến trinh sát, chúng tưởng đâu là đường bị tan nát vì cơn mưa bom của chúng. Nhưng chúng có mắt như mù, chính lúc đó là lúc đoạn đường đang được nối liền bằng cả tâm hồn và trí tuệ của chúng con… Ban đêm chúng thắp đèn để chúng con làm đường, ban ngày chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện. Bom đạn của chúng có thể làm rung chuyển núi rừng nhưng không thể làm rung chuyển được những trái tim của chúng con”. Trong cuốn sổ lưu niệm của một đồng đội tên là Hường vào Vĩnh Linh công tác (mới tìm thấy). Chị Trần Thị Hường viết: “Tặng bạn bầu nhiệt huyết. Mối tình khăng khít thắm hơn xưa. Chúc cho Hường cánh hồng lướt gió ra khơi. Bay cho mau đến bến, đến bờ. Cho rạng rỡ của đời tình nguyện”.
“Rạng rỡ cuộc đời tình nguyện…” chiến thắng và sự bất tử ở Ngã ba Đồng Lộc là chiến thắng và sự bất tử của con người, của lẽ sống cao đẹp.
Con người đang đi vào cái chết nhưng mọi hành động đều hướng về sự sống. Ngày nào, các chị cũng học văn hoá. Có chị còn nuôi gà để gửi về cho mẹ. Uông Xuân Lý, tổ trưởng tổ máy gạt nhận nhiệm vụ phải xúc gạt hai quả bom chưa nổ ở cầu Tối (cầu Dương Tài) cho đoàn xe vũ khí vượt tọa độ lửa. Lý nhận sự cảm tử này về phần mình, vì chưa có vợ con, nếu có hy sinh, ít người phải đau thương hơn cả. Truy điệu xong, anh lên xe hướng về phía quả bom. Bỗng anh dừng lại, chạy về phía anh em và thủ trưởng cấp trên: “Nếu em chết, xin đừng vội báo cho mẹ em, mẹ em già rồi, sợ không chịu nổi tin này đâu”. Đoạn cởi quần áo nhường lại cho đồng đội, chỉ mặc mỗi quần đùi lên xe, khiến ai cũng khóc…
Còn mãi huyền thoại về 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc
trong lòng lớp trẻ hôm nay.
Sự thần kỳ ở Đồng Lộc những ngày ấy được biểu thị sinh động trong mọi con người, mọi tập thể, ai cũng anh hùng, không trừ ai. La Thị Tám, 18 tuổi, trong 200 ngày, từ trên đài quan sát của đỉnh núi Mòi đếm và cắm tiêu 1205 quả bom nổ chậm, nghĩa là 1205 lần giáp mặt cái chết. Nguyễn Tri Ân sống giữa 293 trận bom, 15 lần bị bom vùi, rà phá được 545 quả bom các loại. Vua phá bom Vương Đình Nhỏ đã tự phá và chỉ huy phá được 1899 quả bom. Sau chiến tranh, anh còn tiếp tục rà phá bom mìn ở Quảng Trị và chẳng may hy sinh. Anh sống là một anh hùng, chết như một người thiệt phận. Đồng Lộc còn là niềm tự hào của thủ đô Hà Nội. Nơi đã đã sống và chiến đấu của trung đoàn phòng không 210 thuộc sư đoàn 367, trong năm tháng ở Đồng Lộc đã đánh 1076 trận, bắn rơi 14 máy bay, hy sinh 122 chiến sĩ, trong đó có 5/6 đại đội trưởng, 259 đồng chí bị thương. Đây là đơn vị có số thương vong lớn nhất. Đại tá Trần Bút, nguyên tham mưu trưởng trung đoàn kể lại, do thương vong quá lớn, đơn vị phải bổ sung 100 quân của hai huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Số này một thời gian dài không kịp có quân trang phải lên mâm pháo bằng bộ quần áo mang từ quê nghèo đến trận địa… Bên cạnh trung đoàn 210 là tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương, từng bắn rơi 52 máy bay Mỹ.Mười sáu nghìn người đã tham gia chiến đấu và bảo đảm giao thông ở Ngã ba Đồng Lộc là mười sáu nghìn anh hùng. Nhưng còn một tập thể anh hùng nữa là nhân dân các địa phương của huyện Can Lộc nói riêng và nhân dân Hà Tĩnh nói chung. Tiêu biểu cho người anh hùng nhân dân, có lẽ là ông Trần Quang Đạt, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh, Trưởng ban bảo đảm giao thông Hà Tĩnh (K68). Đây là một ông vua thủy lợi, ông vua giao thông với nhiều sáng kiến tuyệt vời như ghép phà và thùng phi làm cầu; vạch đường tránh để giải phóng đoàn xe chở xăng qua Tiến Lộc, một đêm dỡ 130 nóc nhà… Ông luôn có mặt ở nơi nóng bỏng nhất, với tính quyết đoán, với những sáng kiến và kinh nghiệm tích lũy được, không bao giờ ông chịu để tắc đường trên địa bàn mình phụ trách. Từng chiến tích ở Đồng Lộc, đều ghi đậm dấu ấn của ông. Nay ông đã mất nhưng nhắc tới những ngày ấy, nhắc tới Hồ Kẻ Gỗ, không ai quên công lao khai phá của ông…Tôi lại trở về quê hương Phú Lộc…, một làng nhỏ ven đường Trường Sơn. Tại đây, năm nào cũng có các đơn vị bộ đội đóng quân. Đơn vị TNXP của chị Tần cũng đã đóng ở đây. Nhiều sự tích anh hùng đã diễn ra. Vào một ngày năm 1968, Ban chỉ huy K68 nhận được một bức thư gửi từ Phú Lộc:
“Kính gửi Ban chỉ huy K68 Hà Tĩnh,
Tối hôm qua, trên đường từ Ngã ba Đồng Lộc về Phú Lộc, tôi có đi nhờ xe của một đồng chí không rõ tên. Chiếc Zin ba cầu này đã vỡ hết kính chắn và mất cánh cửa buồng lái phía ngoài. Xe về đến cầu Bạng thì phải nhường đường cho đoàn xe chở đạn vào chiến trường. Vào lúc chiếc xe cuối cùng của đoàn xe chở đạn qua ngầm thì máy bay địch đến thả bom. Chiếc xe chở đạn sau cùng bị cháy và có nguy cơ lộ cả đoàn xe…
Chúng tôi cố dập tắt đám cháy, nhưng không dập được ngay. Đồng chí lái xe Zin ba cầu thấy vậy đã lái xe qua ngầm và bật đèn pha chạy ngược chiều với đoàn xe chở đạn để đánh lạc hướng địch cứu đoàn xe. Quả nhiên máy bay địch đã bị đánh lừa, đuổi theo đánh xe của anh. Chiếc Zin ba cầu bị trúng bom và bốc cháy. Anh đã hy sinh, nhưng đoàn xe thì còn nguyên vẹn vào mặt trận.
Vì chưa biết được tên anh cũng như đơn vị anh nên tôi báo cáo sự việc này lên Ban chỉ huy K68 để nhờ các đồng chí tìm mọi cách tìm ra đơn vị của anh và báo cho gia đình anh biết.
Anh ấy còn trẻ, khoảng 28-30 tuổi, đôi mắt sáng, mũi đẹp, miệng cười tươi, nói tiếng bắc. Có lẽ là người Hà Nội…
Một đảng viên
Võ Thị Tần
Chị Nguyễn Thị Rạng viết cho chị Hường: “Rạng nhớ những buổi hoàng hôn trăng sáng, hai ta cùng nằm giữa sân nơi mảnh đất Phú Lộc, hai ta cùng nói chuyện về tương lai và cuộc đời của ta sau này”…
I-li-a Ê-ren-bua, nhà báo, nhà văn Nga Xô-viết từng viết về lòng yêu nước:
“Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh…
… Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.
Quê tôi không có trái cây nào ngọt mát, không có dòng trường giang hùng vĩ. Chỉ có sim mua cỗi cằn và ký ức đạn bom. Nhưng có những ngày lòng yêu nước và gương anh hùng bốn phương dồn tụ. Ký ức ấy đã nuôi tôi trở thành chiến sĩ, đã cất lên tiếng hát yêu đời, yêu nước thiết tha.
Sim mua bây giờ vẫn còn tím ngát. Thoảng hương tóc, hương bồ kết đâu đây quanh những kỷ niệm về các anh, các chị, làm nên một màu hoa bất tử.
Không có con đường nào xa quê. Đường nào tôi đi cũng dưới màu hoa bất tử ấy.