Xóa đói, giảm nghèo ở miền núi phía bắc

Ðầu tư nhiều, hiệu quả chưa tương xứng

(Tiếp theo và hết) (*)
Bài 2: Nâng cao hiệu quả đầu tư
Ðang có tình trạng các chương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo triển khai tại các tỉnh miền núi phía bắc lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả. Ðể xóa đói, giảm nghèo bền vững, không chỉ "rót" vốn, mà quan trọng hơn là việc quản lý, giám sát vốn đầu tư, nâng cao trách nhiệm của những người thực thi từ khâu quy hoạch, lập dự án đến triển khai thực hiện.

Nhờ có các cơ sở chế biến gỗ, thu nhập của người trồng rừng ở huyện Bảo Thắng (Lào Cai) được nâng cao.
Nhờ có các cơ sở chế biến gỗ, thu nhập của người trồng rừng ở huyện Bảo Thắng (Lào Cai) được nâng cao.

* Bài 1: Đầu tư nhiều, hiệu quả chưa tương xứng

Vì sao đầu tư "nặng", hiệu quả "nhẹ"?

Làm việc trực tiếp với các Ban quản lý dự án và cơ quan chức năng ở các tỉnh, chúng tôi ghi nhận nhiều ý kiến phản ánh về các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, thậm chí thất thoát, lãng phí. Trong đó, tập trung vào một số nguyên nhân, trước hết là phân cấp quản lý đầu tư chưa mạnh, dẫn đến vai trò, trách nhiệm của chủ đầu tư không rõ ràng. Nhà máy thủy điện Nậm Sì Lường (huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu) hoàn thiện năm 2002, với tổng mức đầu tư 38 tỷ đồng. Tại thời điểm đó, công trình này được xếp vào hàng thủy điện nhỏ đắt nhất thế giới (gấp khoảng 4,5 lần so với mức giá trung bình của một nhà máy thủy điện nhỏ công suất 0,5 MW). Nhưng nhà máy này chỉ hoạt động được tám năm, rồi "bỏ hoang" đến nay đã hơn hai năm... Cầu Nậm Khao, được đầu tư 21 tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, thuộc dự án ba cây cầu bắc qua sông Ðà, khởi công từ đầu năm 2009, đúng ra giữa năm 2010 phải đưa cầu vào hoạt động, nhưng chậm mất 1,5 năm mới hoàn thành công trình. Ðáng buồn hơn, do thay đổi thiết kế nên đến năm 2015, khi thủy điện Lai Châu bắt đầu dâng nước ngập thành lòng hồ, thì cầu Nậm Khao lại nằm ở dưới... cốt ngập, đành tháo làm sắt vụn. Tuy nhiên, đến nay không thể quy trách nhiệm cho đơn vị, cá nhân nào gây thất thoát, lãng phí vốn đầu tư các công trình nêu trên.

Theo thống kê, trên địa bàn huyện Mộc Châu (Sơn La) từ năm 2005 đến nay được đầu tư 79 công trình nước sinh hoạt, trị giá 61 tỷ đồng. Trớ trêu thay, nhiều công trình khởi công chưa cắt băng khánh thành, đã nhìn thấy những nghịch lý. Có 32 công trình không sử dụng được, khiến 21,3 tỷ đồng coi như bị vứt qua cửa sổ, chín công trình chỉ sử dụng 25-30% công suất, 19 công trình khá hơn sử dụng 50 đến 70% công suất. Dự án cấp nước sinh hoạt cho các điểm tái định cư thuộc dự án di dân tái định cư thủy điện Sơn La, đầu tư hàng trăm tỷ đồng, đến nay hầu hết đều xuống cấp, 65 đến 70% không sử dụng được, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sản xuất của bà con. Theo báo cáo của UBND tỉnh Sơn La, trong hàng trăm dự án thành phần đưa vào sử dụng hiện nay, có 119 dự án xuống cấp, không sử dụng được nữa. Ðiều đó cho thấy yếu kém bộc lộ từ khâu quy hoạch, lập dự án đầu tư, thi công...

Nhiều dự án, công trình được quyết định đầu tư nhưng rất ít các dự án có ý kiến phản biện của người dân - đối tượng được hưởng lợi và có trách nhiệm trong việc sử dụng, bảo quản và khai thác dự án, công trình. Vì áp đặt chủ quan cho nên nhiều dự án, công trình không phát huy tác dụng. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Trưởng phòng Quản lý thương mại Sở Công thương Lào Cai Nguyễn Hùng Mạnh cho biết, ở địa phương hiện có 16 chợ hoạt động kém hiệu quả hoặc đắp chiếu (như đã nêu ở bài 1) đều được xây dựng tự phát, không theo quy hoạch. Ở miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống phân tán, sản xuất kém phát triển, tự cung tự cấp, khép kín hoặc chỉ trao đổi nông sản và những vật dụng cần thiết cho đời sống hằng ngày nên xây chợ to, hiện đại là không phù hợp. Bên cạnh đó, có tình trạng xây chợ vội vã để giải ngân vốn, tránh bị cắt, nhất là nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)...

Có những dự án, công trình, việc quản lý, giám sát kém, thậm chí có tiêu cực, tham nhũng, dẫn đến thất thoát vốn đầu tư. Ðơn cử như công trình cầu Bản Phiệt (quốc lộ 70, tỉnh Lào Cai) được Công ty Thăng Long 4 giao khoán lại cho Ðội xây dựng số 2, do kỹ sư Lê Huy Ðạt làm đội trưởng thi công. Lê Huy Ðạt cùng hai cán bộ kỹ thuật là Trần Quốc Huy và Phùng Ðại Dương chỉ đạo công nhân lắp đặt kết cấu lưới thép đúng thiết kế, nhưng trước khi đổ bê-tông, công trường được quây kín, Ðạt yêu cầu hai thợ hàn cứ cách một cây thép theo kết cấu ngang (thép phi 19), lại dùng hàn hơi cắt bớt một thanh. Tổng cộng, các đối tượng đã tham ô hơn 9,2 tấn thép. Ngoài ra, còn rất nhiều nguyên nhân khác như: đầu tư dàn trải theo kiểu "rải mành mành", cấp vốn nhỏ giọt... làm chậm thời gian hoàn thành công trình, dẫn đến hiệu quả đầu tư kém.

Giải pháp để đầu tư "có lãi"

Chúng tôi theo quốc lộ 4D ngược núi cao lên xã vùng sâu Bản Sen, huyện Mường Khương. Ðây là một trong ba huyện nghèo nhất của tỉnh Lào Cai. Ðược hưởng lợi từ Chương trình 167 về xóa nhà tạm của Chính phủ, toàn xã vùng sâu Bản Sen không còn nhà tạm, nhà dột nát, có đường giao thông cấp phối, điện lưới quốc gia và nước sạch về tận thôn, bản. Bản Sen có 803 hộ, với 12 dân tộc chung sống, ở vị trí được mệnh danh là "họng gió" của trời, bởi nơi đây năm nào cũng xảy ra lốc xoáy, mưa đá, gây nhiều thiệt hại. Gia đình chị Hù Thị Vải ở thôn Na Lin, được xã hỗ trợ 12 triệu đồng, tỉnh và huyện giúp năm triệu đồng, vay Ngân hàng Chính sách xã hội tám triệu đồng, làm căn nhà "ba cứng" rộng 50 m2, lợp ngói xi-măng. Bên bàn nước, nhắc lại những ngày tháng khổ ải sống trong chiếc lều tạm bợ, ứa nước mắt, chị Vải nói: "Mẹ con tôi cảm ơn Ðảng, Chính phủ và bà con nhiều lắm. Có nhà ở tốt rồi, sẽ cố gắng làm ăn để thoát nghèo". Sau hai năm triển khai thực hiện Chương trình 167, Lào Cai đã làm 6.272 ngôi nhà theo tiêu chuẩn "ba cứng", rộng từ 40 m2 trở lên để xóa nhà tạm bợ, dột nát cho người nghèo. Trên địa bàn ba huyện nghèo nhất tỉnh (theo Nghị quyết 30a của Chính phủ) là Bắc Hà, Mường Khương và Si Ma Cai, Chính phủ đã hỗ trợ 60 tỷ đồng để xóa hoàn toàn 100% số nhà tạm, xây dựng hơn 100 công trình hạ tầng, giúp 1.500 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo, ổn định cuộc sống. Chương trình 167 được đánh giá là thiết thực và hiệu quả, giúp đồng bào nghèo dân tộc thiểu số ở vùng cao Lào Cai định canh, định cư, phát triển sản xuất, ổn định và nâng cao thu nhập cuộc sống. Thành công của chương trình là do đã đầu tư đúng, trúng và có sự tham gia, giám sát chặt chẽ của các ngành chức năng, chính quyền cơ sở và người dân.

Theo Giám đốc Sở Kế hoạch và Ðầu tư tỉnh Lào Cai Ðặng Xuân Phong: Ðể nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án xóa đói, giảm nghèo ở miền núi cần phải đặc biệt quan tâm, chú trọng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở và người lao động để có đủ năng lực sử dụng nguồn vốn đúng mục tiêu, có hiệu quả, không thất thoát. Bảo đảm tính công khai, dân chủ, minh bạch về tài chính theo nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được hưởng lợi". Tiếp tục thực hiện cơ chế phân cấp quản lý và sử dụng kinh phí cho cấp huyện, xã theo hình thức hỗ trợ kinh phí có mục tiêu và giao quyền quyết định sử dụng nguồn kinh phí đó cho mục tiêu giảm nghèo và phát triển bền vững ở địa phương. Nên quan tâm bố trí ngân sách để giải quyết những nhu cầu bức xúc trên địa bàn, ưu tiên cho việc xây dựng hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là ở những xã, thôn đặc biệt khó khăn. Xây dựng cơ chế, quy trình lồng ghép, gắn kết với các chương trình, dự án khác để tập trung nguồn lực cho mục tiêu giảm nghèo, tránh trùng lắp, chồng chéo, đồng thời xây dựng kế hoạch cụ thể của từng chính sách, dự án giảm nghèo và triển khai tổ chức thực hiện đồng bộ và hiệu quả.

Phó ban Dân tộc tỉnh Sơn La Nguyễn Vũ Ðiền là người nhiều năm lăn lộn với bà con vùng đồng bào khó khăn nhắc lại câu chuyện "con cá và chiếc cần câu" làm thí dụ. Ðồng chí nêu bất cập hiện nay, đó là tình trạng đầu tư dàn trải được nói từ lâu, ở nhiều diễn đàn, nhưng tại sao vẫn không khắc phục. Tình trạng thiếu vốn, nhưng các chương trình, dự án vẫn cứ "vẽ ra", dẫn đến tình trạng phổ biến là các công trình thường kéo dài, phải gia hạn hợp đồng và doanh nghiệp lại "chờ" điều chỉnh giá. Ðây là kẽ hở cho tiêu cực, thất thoát đầu tư, đang là hiện tượng có xu hướng trở nên phổ biến khi đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc miền núi. Những công trình kéo dài nhiều năm, chia giai đoạn đầu tư bao giờ cũng có hiện tượng chênh giá so với dự toán ban đầu lên gấp hai đến ba lần, với những công trình tiền tỷ, hàng chục tỷ thì con số thất thoát là không nhỏ. Trên thực tế, Ban Dân tộc tỉnh Sơn La đang quản lý, thực hiện bảy chương trình, dự án theo chương trình của Chính phủ đầu tư cho vùng dân tộc miền núi, từ đầu tư cơ sở hạ tầng đến hỗ trợ sản xuất, đào tạo cán bộ, nâng cao dân trí. Khi xem lại các nhiệm vụ, mục tiêu của Chương trình 30a do Chính phủ giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện cũng không khác nhau là mấy. Thế nên có chuyện trên một địa bàn xuất hiện nhiều bộ, ban, ngành cùng tham gia đầu tư cho vùng đặc biệt khó khăn, dẫn đến chồng chéo, phân tán nguồn lực. Mặt khác, do định mức khác nhau, cách làm khác nhau, nên hiệu quả đầu tư thấp. Theo đồng chí Ðiền, đối với miền núi quan trọng nhất là giải quyết vấn đề giao thông, cơ sở hạ tầng, tạo môi trường sản xuất cho bà con. Việc hỗ trợ đời sống, sản xuất như: gạo, dầu, muối, giống cũng cần thiết, nhưng xem ra "con cá" đến được với người dân chẳng bao nhiêu, cách làm cũ chỉ nặng về ý nghĩa chính trị. Nay cần tập trung cho "cái cần câu" và đầu tư ra tấm ra miếng, giải quyết tốt vấn đề giao thông, sắp xếp lại dân cư, tạo cơ hội phát triển bền vững, xóa đói, giảm nghèo thật sự. Thực tiễn ở Sơn La và các tỉnh miền núi phía bắc đã chứng minh: Nơi nào có đường giao thông tốt, nơi đó kinh tế phát triển, đời sống sản xuất của người dân được cải thiện.

Nguồn vốn trung ương cấp cho tỉnh Lai Châu theo Chương trình 30a khá lớn, khoảng 19 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp nên rất nhiều hạng mục cần đầu tư. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu Vương Thành cho rằng, cần khắc phục tình trạng đầu tư rải mành mành, nên cân đối kỹ nguồn vốn, ưu tiên các dự án trọng điểm, làm gọn theo kiểu cuốn chiếu, đến đâu dứt điểm đến đó. Theo Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Bắc Hoàng Thị Hạnh, muốn giải quyết căn cơ đói nghèo trước hết phải làm tốt công tác cán bộ, trong đó cần đặc biệt quan tâm đến nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số ở cơ sở, bắt đầu từ việc nâng cao chất lượng các Trường dân tộc nội trú, tạo điều kiện cho con em đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc nắm vững tri thức và có điều kiện công tác tốt. Phải ưu tiên các dự án trọng điểm, tạo "cú hích" cho nền kinh tế từng địa phương, thí dụ như Nhà máy luyện thép một triệu tấn ở Lào Cai, Nhà máy thủy điện Lai Châu, các dự án trồng cây cao-su... từ đó xây dựng thương hiệu cho từng địa phương và tạo sức lan tỏa về kinh tế - xã hội cho cả vùng. Tiếp tục triển khai có hiệu quả việc liên kết vùng, nhất là tận dụng lợi thế về du lịch, phát triển công nghiệp chế biến gỗ rừng trồng và công nghiệp giấy, làm sao người dân trồng rừng có thể yên tâm sống được từ rừng, góp phần chống di cư tự do, đồng bào có cuộc sống tốt đẹp hơn.

Xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh miền núi vùng Tây Bắc là nhiệm vụ quan trọng, là chặng đường dài, nhiều khó khăn. Dù đã có chính sách đúng và trúng, được ưu tiên bố trí các nguồn vốn đầu tư, nhưng cần thêm cơ chế giám sát, phân cấp quản lý nguồn vốn, phân cấp trách nhiệm rõ ràng, cụ thể, tạo cơ hội để người dân được tham gia trực tiếp trong quá trình triển khai các dự án, để nâng cao hiệu quả đầu tư, góp phần xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững. Có như vậy, mong ước "miền núi tiến kịp miền xuôi" mới sớm trở thành hiện thực.

(*) Xem Báo Nhân Dân số ra ngày 26-11-2013.

Đường giao thông được nâng cấp, mở rộng, xe ô-tô tải có thể vào tận nơi để thu mua dứa cho đồng bào dân tộc Mông ở xã Bản Lầu (Mường Khương, Lào Cai).

Có thể bạn quan tâm