Thời gian gần đây, trước sự xuất hiện của nhiều người viết văn trẻ trong đời sống văn học và xã hội, một số nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đã liên hệ đến sự phát triển của đội ngũ viết phê bình văn học. Không ít ý kiến cho rằng cần phải có "phê bình trẻ" dành cho "văn trẻ". Ðặc biệt, những ý kiến đó không còn là cá biệt và đã bắt đầu xuất hiện trên những diễn đàn có tính chính thống, có chất lượng học thuật. Vậy phải chăng, đã đến lúc đặt vấn đề về một lớp "phê bình trẻ", đặc biệt trong mối quan hệ với những người sáng tác trẻ?
Nếu đã thừa nhận phê bình là một lĩnh vực sáng tạo nơi lý trí kết hợp với cảm tính, nơi khả năng cảm thụ cái đẹp, nơi sự nhạy cảm thẩm mỹ có một vai trò đặc biệt quan trọng thì sự song hành của những người sáng tạo trẻ và những người phê bình trẻ là một kết hợp "trong mơ". Sự xuất hiện của cái mới, một cách tự nhiên, giả định đòi hỏi phải được cảm nhận từ một tâm hồn mới mẻ không bị ràng buộc bởi các định kiến. "Trẻ" và "già" ở đây rõ ràng có liên quan vấn đề thế hệ. Trong sự phát triển của nghiên cứu lịch sử văn chương, cùng với trào lưu, thể loại..., thế hệ cũng được coi như một trong những tiêu chí phân kỳ lịch sử văn chương.
Mỗi thời đại, mỗi thế hệ nghệ sĩ lại "lựa chọn" ra những nhà phê bình làm "người đại diện" của mình. Xét về sự uyên bác, sự am tường thơ ca hiện đại, không chắc Hoài Thanh đã vượt được Phạm Quỳnh, một người sinh cách ông gần 20 năm.
Ngay từ đầu những năm của thế kỷ 20, Phạm Quỳnh đã có những tiểu luận nói về hạn chế của thơ ca truyền thống của người Việt và giới thiệu những khuynh hướng thơ của Tây phương mà phải đến tận những năm 30 mới bắt đầu có ảnh hưởng ở Việt Nam. Vậy nhưng, lịch sử đã lựa chọn Nguyễn Ðức Nguyên và người em Nguyễn Ðức Phiên làm "người phát ngôn" chính thức của Thơ mới chứ không phải tiên sinh kính trắng họ Phạm. Và đứng về tuổi tác, rõ ràng Hoài Thanh và Hoài Chân gần các nhà Thơ mới hơn Phạm Quỳnh (ông hơn Thế Lữ gần 15 tuổi, hơn Xuân Diệu 24 tuổi và hơn Chế Lan Viên 28 tuổi).
Vậy, phải chăng là hãy cứ chờ đợi đến một ngày kia trong số những người trẻ tuổi 8X, 9X sẽ có một tài năng phê bình xuất hiện và khi đó dòng văn học này sẽ "lên hương"? Và phải chăng khi mà các nhà văn thuộc lớp trên 45 tuổi ngừng sáng tác thì khi đó cũng nên bắt đầu "tính bảo hiểm xã hội", "làm sổ hưu" cho các nhà phê bình cùng lứa tuổi với họ? Hình như thực tế không vận hành theo những quy luật đơn giản như vậy. Không phải là cứ khi nhà văn buông bút thì nhà phê bình cũng chuẩn bị "sinh hoạt tổ hưu" và không phải là chỉ nhà phê bình thiếu nhi mới có thể tri âm tri kỷ và thẩm định được đúng giá trị của các cây bút ở tuổi quàng khăn đỏ (nhà phê bình Nguyễn Ðăng Mạnh có một nhận xét chính xác là có thể có nhà văn thần đồng chứ không có nhà phê bình thần đồng).
Bản thân cái tiêu chí "trẻ" và "già" cũng là một tiêu chí đáng bị nghi ngờ? Bởi lẽ nó luôn luôn hết sức tương đối. Hoài Thanh gần như hơn tuổi tất cả các "yếu nhân" của Thơ mới. Ông chỉ thua Thế Lữ 2 tuổi, trong khi đó hơn Lưu Trọng Lư 3 tuổi, hơn Xuân Diệu khoảng 7 tuổi, hơn Huy Cận 10 tuổi. Vậy mà, khó có thể nói rằng Hoài Thanh gần Thế Lữ hơn hai nhà thơ có tuổi đời kém ông.
Bằng chứng là số bài thơ của cả Xuân Diệu lẫn Huy Cận được nhà phê bình họ Nguyễn tuyển vào Thi nhân Việt Nam đều nhiều hơn Thế Lữ (cũng phải nhớ lại vị trí quan trọng của Thế Lữ đối với phong trào Thơ mới để thấy hết ý nghĩa của sự so sánh này).
Bản thân nhà thơ Xuân Diệu, sau cách mạng, khi làm công việc của một nhà phê bình, cũng đã có công phát hiện, dìu dắt (về nghề nghiệp) nhiều người sáng tác có tuổi đời thua ông có khi đến hàng chục năm, từ Quang Dũng đến Phạm Tiến Duật, Trần Ðăng Khoa. Nhìn rộng ra các sinh hoạt nghệ thuật khác, có thể nói, kể từ sau sự ra đi của Thái Bá Vân thì Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng, Bùi Như Hương... nổi bật lên như là những gương mặt có uy tín nhất trong số những người viết phê bình mỹ thuật và nhìn vào những tác giả nằm trong "diện trường quan tâm" của những nhà phê bình này, khó có thể nói đến một giới hạn nào liên quan đến tuổi tác.
Gần đây, nếu đọc bài viết phê bình cuốn hồi ký của một nhà nghiên cứu văn học lão thành của một nhà phê bình chưa đầy ba mươi tuổi gần đây, người ta càng có cơ sở để khẳng định rằng, tuổi tác không mấy chi phối khả năng cảm thụ văn chương. Không một nhà phê bình nào không có những giới hạn trong khả năng cảm thụ và "đọc" văn chương. Tôi cho rằng việc Hoài Thanh "phong thánh" cho một nhà thơ vô danh với bút hiệu TTKH và việc ông cho rằng thơ Trần Huyền Trân chỉ là một thứ "đổi gió" sau khi đã "đọc hoài những câu rặt anh anh em em" chính là bằng chứng cho những giới hạn của lối phê bình ấn tượng mà ông thực hành. Dẫu vậy, giới hạn đó, chắc chắn không có liên quan gì đến tuổi tác.
Tất nhiên, vẫn còn có ý kiến cho rằng, đối với sáng tác của các cây bút trẻ, phải sống cùng lứa tuổi với họ, suy nghĩ cùng cách suy nghĩ của họ, chia sẻ những giá trị sống của họ mới có thể nắm bắt được những "thông điệp" mà tác phẩm của họ chuyển tải và đồng cảm với tác phẩm của họ. Quan niệm này mới nghe tưởng rất có lý nhưng đi đến tận cùng của quan niệm này, sẽ bắt gặp chính điều mà cách đây chưa lâu đã bị lên án với cái tên "xã hội học dung tục". Một quan niệm như vậy, thực chất gói toàn bộ sáng tác của người viết trẻ trong việc phản ánh cuộc sống của chính họ (thật vậy?) và công việc của người phê bình "gói gọn" trong việc đọc những nội dung được phản ánh đó. Khi đó đọc một tác phẩm văn chương sẽ đồng nghĩa với giải nghĩa và đánh giá hình ảnh của cuộc sống phản chiếu trong tác phẩm và văn chương sẽ cạn kiệt ý nghĩa nghệ thuật để trở thành một thứ phim tài liệu không hình (liệu có thể vậy?).
Vậy, rõ ràng mọi câu chuyện của phê bình và văn chương nhất quyết không thể là câu chuyện của tuổi tác. Thay vì mơ tưởng đến một đội ngũ "phê bình trẻ" phục vụ những "nhà văn trẻ", có lẽ, cần phải đặt lại vấn đề theo một cách khác. Nếu khách quan nhìn vào đời sống văn học, có một thực tế không thể phủ nhận là không riêng gì "phê bình trẻ" mà toàn bộ phê bình văn học ở Việt Nam đang thật sự khủng hoảng. Và điều trầm trọng hơn là tình trạng khủng hoảng đó diễn ra gần như trên tất cả mọi bình diện của đời sống phê bình, từ đội ngũ, vị trí xã hội (văn học, suy cho cùng cũng là một hoạt động xã hội và vì thế, không thể không tính đến khả năng tác động đến xã hội của nó) cho đến chất lượng của "sản phẩm phê bình".
Trong khi chuyên nghiệp hóa đang diễn ra một cách phổ biến trong mọi mặt của đời sống xã hội thì dường như phê bình văn học lại đang đứng ngoài khuynh hướng này. Nếu hiểu một nhà phê bình chuyên nghiệp là người lấy việc viết các thể loại phê bình (từ các bài, tin sách, điểm sách đến những "sản phẩm" dài hơi hơn) làm công việc chính; gắn bó chặt chẽ với các vấn đề thời sự của đời sống văn chương, hoạt động phê bình một cách thường xuyên trên những diễn đàn chuyên về văn chương và đạt đến một trình độ "chuyên môn" nhất định trong hành nghề (nghĩa là có khả năng áp dụng lý thuyết vào các hoạt động phê bình ở những mức độ khác nhau) thì số lượng các nhà phê bình chuyên nghiệp đó, tính tất cả mọi lứa tuổi, chưa hết số ngón của hai bàn tay.
Ở nước ta hiện nay, việc viết phê bình văn học chủ yếu do các nhà nghiên cứu (đặc biệt là nghiên cứu văn học sử), các nhà giáo, các nhà báo và cả người sáng tác tiến hành. Nhiều tờ báo, đặc biệt là các báo điện tử, gần như "thả nổi" việc viết điểm sách cho các cây bút nghiệp dư (chủ yếu là độc giả viết cảm nhận của mình về các cuốn sách mới) và người ham đọc sách khó có thể tìm đến một tờ báo nào như một người hướng dẫn hữu ích cho việc đọc. Chất lượng của các sản phẩm phê bình văn học có vấn đề một cách trầm trọng.
Một bài báo mới đây của nhà thơ Inrasara đã vạch ra những căn bệnh "trầm kha" của phê bình văn học ở Việt Nam mà nhiều luận điểm là có cơ sở. Tình trạng "đứt gãy" giữa các thế hệ người viết phê bình là hoàn toàn có thật. Mặc dù đây đó vẫn có những cây bút cho phép hy vọng vào tương lai của phê bình văn chương (Ðoàn Cầm Thi, Cao Việt Dũng, Nguyễn Chí Hoan, Hoài Nam...) thì chúng ta cũng thấy rằng số lượng các nhà phê bình có tuổi đời dưới 40 hiện nay rất thưa thớt, nhiều người thật sự tài năng nhưng vì những lý do khác nhau, đã sớm bỏ nghề. Sự rối loạn của thị trường sách cũng làm giảm chất lượng của hoạt động phê bình văn học và dẫn đến việc công chúng giảm niềm tin vào người viết phê bình. Nếu như trong mấy năm gần đây, không ít các hoạt động dành cho người sáng tác cả "trẻ" lẫn "già" đã được tổ chức thì số lượng các hoạt động tập thể có tính chuyên môn dành cho hoạt động phê bình, có thể nói là hoàn toàn vắng bóng.
Vấn đề của phê bình không thể tách khỏi vấn đề sáng tác. Dăm năm trở lại đây, cứ ít lâu, người ta lại chứng kiến sự xuất hiện của một "cái mốt" trong văn chương: tình dục, các vấn đề nhạy cảm của lịch sử (các triều đại quá khứ, cải cách ruộng đất...), đồng tính luyến ái... Nhịp độ xuất hiện của những "cái mốt" ấy cứ mau dần và thậm chí đã có cả khuynh hướng pha trộn. Với sự hỗ trợ của báo chí và một số nhà phê bình, những cái mốt nhanh chóng trở thành một biến cố ầm ĩ, nhưng nếu xếp một vài tác phẩm thuộc cùng một "mốt" cạnh nhau, có thể dễ dàng nhận thấy tính đơn giản, công thức đã trở thành một căn bệnh khá phổ biến của sáng tác.
Xét cho cùng, chính độ "nông - sâu", độ "trẻ - già" của sáng tạo mới là vấn đề thật sự của cả phê bình lẫn sáng tác văn học. Nhìn thẳng vấn đề đó, hy vọng một ngày kia, văn chương cũng như phê bình ở Việt Nam mới đạt được đúng cái vị trí mà bạn đọc và cả xã hội mong đợi.