TCTD được coi là trụ cột quan trọng nhằm trực tiếp và gián tiếp góp phần huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội, thu hẹp và đẩy lùi tín dụng đen, thúc đẩy luân chuyển dòng vốn tiết kiệm và đầu tư, tạo cơ hội việc làm, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh và trật tự xã hội, cải thiện đời sống và phúc lợi xã hội ở mỗi quốc gia.
Trên thế giới hiện đã có 55 nước đưa ra cam kết và hơn 30 nước ban hành hoặc đang xây dựng chiến lược quốc gia về TCTD, với mục tiêu bảo đảm tất cả các hộ gia đình được tiếp cận ở mức chi phí hợp lý các dịch vụ tiết kiệm, gửi tiền, thanh toán và chuyển tiền, tín dụng và bảo hiểm. Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra tầm nhìn cho Chương trình tăng cường cơ hội tiếp cận tài chính toàn cầu tới năm 2020, tập trung vào 25 quốc gia ưu tiên (trong đó có Việt Nam) nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính chính thống cho cá nhân. Phát triển TCTD cũng là một trong ba trụ cột của Tầm nhìn ASEAN 2025 về hội nhập tài chính và Nhóm công tác về tài chính bao trùm để thúc đẩy lĩnh vực này trong khu vực ASEAN...
Gần đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ trương mở rộng các nguồn tín dụng ngân hàng cho vay tiêu dùng với lãi suất và thời hạn hợp lý. Theo đó, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) sẽ dành 5.000 tỷ đồng cho vay tiêu dùng; Ngân hàng Chính sách xã hội từ ngày 1-3-2019 đã nâng mức tối đa cho vay tín chấp đối với hộ nghèo từ 50 triệu đồng/hộ lên 100 triệu đồng/hộ và nâng thời hạn cho vay tối đa lên 120 tháng. Chủ trương này được người dân rất quan tâm và phấn khởi, vì giúp người nghèo cải thiện điều kiện, cơ hội tiếp cận nguồn tín dụng chính thức từ hệ thống ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vay tiêu dùng và phát triển sản xuất, giảm nghèo và bất bình đẳng xã hội.
Chủ trương mở rộng nguồn vốn cho vay đối với các hộ nghèo nêu trên không chỉ phù hợp nội dung và yêu cầu của phát triển TCTD, mà còn nhằm trực tiếp và gián tiếp góp phần đẩy lùi các hoạt động tín dụng đen tự phát hoặc có tổ chức trên phạm vi cả nước, đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất trật tự xã hội và bức xúc trong nhân dân... Theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đang chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng thông qua vào năm 2020 Khung chiến lược quốc gia TCTD, với mục tiêu bao quát là để mọi người dân và doanh nghiệp (nhất là người dân ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa) có quyền tiếp cận và sử dụng hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ tài chính chính thức, phù hợp với nhu cầu, có chất lượng, tiện lợi, nhanh và chi phí hợp lý; đồng thời, phát triển các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả và bảo vệ người tiêu dùng...
Để phát triển TCTD, cần thống nhất nhận thức, tăng cường tuyên truyền về TCTD; phát triển các sản phẩm tài chính đa dạng và các dịch vụ ngân hàng trực tuyến (nhất là về tín dụng, tiết kiệm, thanh toán và đầu tư; bảo hiểm...); nâng cao năng lực ứng dụng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng điện tử, trung tâm dữ liệu quốc gia và các chính sách an ninh tài sản và dữ liệu; mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, hoàn thiện hệ sinh thái tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Fintech (doanh nghiệp công nghệ tài chính) ở Việt Nam ra đời và phát triển. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nhất là trong khuôn khổ APEC, ASEAN và với WB, ADB, UN nhằm huy động và tận dụng nguồn lực phát triển tài chính vi mô; nâng cấp hạ tầng công nghệ ngân hàng tương thích với nền tảng tài chính số; nâng cao chất lượng nhân sự và mở rộng mạng lưới khách hàng tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa…
Bên cạnh mở rộng nguồn vốn Nhà nước, phát triển TCTD đòi hỏi xã hội hóa cao. Do đó, cần tăng cường nhận diện và chủ động phòng tránh các hiện tượng lừa đảo và phạm tội mới phát sinh trong quá trình phát triển TCTD. Chẳng hạn, cần cảnh báo và ngăn chặn sớm nguy cơ phương thức cho vay ngang hàng (P2P) bị lạm dụng và biến tướng thành một kênh huy động vốn đầu tư kiểu đa cấp mới, với lãi suất cao, đầy rủi ro cho nhà đầu tư và người vay.
Phát triển TCTD an toàn, đẩy lùi tín dụng đen sẽ góp phần hữu hiệu giúp phát triển thị trường tài chính đồng bộ, lành mạnh; thúc đầy đầu tư và hỗ trợ an sinh xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để nền kinh tế đất nước tăng trưởng nhanh, bao trùm và bền vững hơn trong hội nhập thời cách mạng công nghiệp 4.0.