Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Liên bang Nga

Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Liên bang Nga

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi truyền thống hợp tác - hữu nghị giữa các thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ thương mại giữa hai nước bước sang một thời kỳ mới, phương thức hoạt động dựa trên nhu cầu của thị trường, thay vì trao đổi hàng hóa qua hiệp định thư và các hiệp định được ký kết giữa hai bên như trước đây.

Từ năm 1991, Việt Nam và Liên bang Nga đã thỏa thuận việc buôn bán giữa hai nước được thực hiện trên cơ sở giá cả thế giới và bằng ngoại tệ chuyển đổi. Quan hệ thương mại giữa hai nước có lúc đã bị trầm lắng, buôn bán hai chiều giảm sút. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam mất dần thị trường Liên bang Nga. Nhiều doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đã phải từ bỏ thị trường này do có quá nhiều rủi ro. Cùng thời kỳ đó, Việt Nam đã thực hiện chiến lược đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chuyển hướng sang buôn bán với nhiều nước và khu vực khác.

Tuy có những khó khăn trong lúc giao thời, nhưng chủ trương của Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn coi Liên bang Nga là thị trường rộng lớn, giàu tiềm năng để phát huy lợi thế so sánh của mình, đẩy mạnh xuất nhập khẩu, tăng cường quan hệ thương mại song phương. Hơn nữa, Liên bang Nga là thị trường mà Việt Nam đã có quan hệ, gắn bó từ lâu, các doanh nghiệp Việt Nam có bề dày kinh nghiệm trong tiếp cận và thâm nhập thị trường. Trang mới trong quan hệ Việt - Nga nói chung và quan hệ thương mại nói riêng, được đánh dấu bằng sự kiện Tổng thống V.Putin đắc cử vào năm 2000. Mở đầu cho trang mới này là chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 9- 2000). Tiếp theo đó là chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Nga V.Pu-tin (từ 28-2 đến 2-3-2001). Những động thái chính trị càng khẳng định rõ thêm trong chính sách đối ngoại cân bằng Đông - Tây của Liên bang Nga có sự ưu tiên chiến lược cho việc phát triển quan hệ với Việt Nam. Tuyên bố chung Nga - Việt và một loạt hiệp định được ký kết trong thời gian qua đã củng cố và tạo dựng thêm cơ sở pháp lý cho một số lĩnh vực hợp tác mũi nhọn, nhất là hợp tác phát triển kinh tế - thương mại.

Đến nay, tuy kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch ngoại thương của mỗi nước (chiếm xấp xỉ 0,2% trong tổng kim ngạch ngoại thương của Liên bang Nga và xấp xỉ 2% trong tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam), nhưng nhìn chung quan hệ thương mại Việt Nam - Liên bang Nga đã từng bước phục hồi và đáp ứng được phần nào nhu cầu của thị trường mỗi nước (xem bảng).

Bảng: Bức tranh thương mại giữa hai nước Việt Nam - Liên Bang Nga

Năm Kim ngạch xuất nhập khẩu (1000 USD) Xuất khẩu Nhập khẩu
    Kim ngạch

(1000 USD)

Tỷ lệ

(%)

Kim ngạch

(1000 USD)

Tỷ lệ

(%)

1992 204.887 104.826 51 100.061 49
1993 279.670 135.410 48 144.260 52
1994 378.940 90.227 24 288.713 76
1995 225.269 80.806 36 144.283 64
1996 154.000 32.000 21 122.000 79
1997 278.913 119.803 43 159.110 57
1998 357.400 132.600 37 224.800 63
1999 353.632 114.547 30 239.085 70
2000 363.117 122.548 34 240.569 66
2001 571.287 194.488 34 376.799 66
2002 687.620 187.017 27 500.603 73
2003 651.302 159.481 24 491.821 76
6 tháng
/2004
421.491 78.229 19 343.262 81

Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế của Việt Nam 1985-1995 của
Cục Công nghệ Thông tin và Thống kê Hải quan

Số liệu trên cho thấy, từ năm 1992 đến nay kim ngạch buôn bán giữa hai nước ngày càng tăng. Mặt hàng nhập khẩu từ Nga chủ yếu là xăng dầu, ô tô và linh kiện, máy móc thiết bị, phân bón, sắt thép..., trong khi Việt Nam chủ yếu xuất hàng nông, lâm, thủy sản, hàng tiểu thủ công nghiệp, dệt may, đồ gỗ mỹ nghệ. Có thể nói quan hệ thương mại giữa hai nước đã đạt được những thành tựu đáng kể và bước đầu phát huy lợi thế so sánh của mỗi nước. Tuy nhiên, những bất cập và tồn tại đều bắt nguồn từ mấy nguyên nhân cơ bản như sau:

Một là, phía Việt Nam chưa kịp thời đưa ra những chính sách cụ thể, hấp dẫn để định hướng, khuyến khích, hỗ trợ và hạn chế rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Liên bang Nga. Các vấn đề trong thanh toán giữa hai nước chưa được giải quyết triệt để. Năng lực kinh doanh, khả năng thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn yếu nên bỏ qua nhiều cơ hội kinh doanh tốt.

Hai là, các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam cơ bản vẫn còn ở dạng thô, hàm lượng công nghệ thấp, chất lượng chưa cao, bao bì mẫu mã chưa phù hợp và hấp dẫn khách hàng, ít có sự thay đổi, cải tiến cả về số lượng mặt hàng và chất lượng sản phẩm, trong khi thị trường Liên bang Nga đã thay đổi rất nhiều. Đó cũng chính là nguyên nhân cơ bản làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung và trên thị trường Liên bang Nga nói riêng.

Ba là, sau khi Liên Xô tan rã, Liên bang Nga chuyển sang nền kinh tế thị trường, khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc, lạm phát cao triền miên, đồng rúp liên tục bị mất giá, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về tài chính. Môi trường kinh doanh ở Nga đầy rẫy những rủi ro. Thế nhưng, nhiều hãng kinh doanh lớn của nước ngoài đã nhanh chóng xây dựng được mạng lưới cung cấp và tiêu thụ hàng hóa với chất lượng cao, sức cạnh tranh lớn ở Liên bang Nga..., làm cho khả năng "chen chân" của hàng hóa Việt Nam vào các kênh phân phối sở tại bị hạn chế.

Bốn là, trong những năm đầu của thập niên 90, thế kỷ XX, Liên bang Nga chủ trương tập trung phát triển quan hệ với các nước phương Tây. Quan hệ thương mại với các nước châu Á nói chung, các nước Đông - Nam Á nói riêng (trong đó có Việt Nam) nhìn chung đã không được chú ý đúng mức. Nhiều vướng mắc, cản trở trong hoạt động thương mại song phương không được giải quyết thỏa đáng và kịp thời đã làm hạn chế việc phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước.

Năm là, thị trường Liên bang Nga vẫn còn nhiều rào cản thương mại và kỹ thuật như: Thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng cao, nhất là thuế đánh vào hàng tiêu dùng trung bình từ 20 - 30% trị giá kèm theo mức thuế tối thiểu áp dụng cho một số mặt hàng; các quy định của luật pháp Nga đối với hàng hóa nhập khẩu rất chặt chẽ, các quy định về quản lý tài chính tín dụng của Liên bang Nga còn rất phức tạp. Chính vì vậy đã gây cản trở và khó khăn cho các đối tác yếu về năng lực kinh doanh quốc tế và còn nhỏ bé về tiềm lực như Việt Nam.

Sáu là, phía Việt Nam, có đặt ra mục tiêu khôi phục và phát triển quan hệ thương mại truyền thống giữa Việt Nam - Liên bang Nga, nhưng chưa xây dựng được chiến lược, chính sách cụ thể cũng như định ra những bước đi thích hợp để khôi phục và mở rộng quan hệ thương mại giữa hai nước nhằm khai thác thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng này. Việc trao đổi, buôn bán hàng hóa với Liên bang Nga chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân và tư thương người Việt làm ăn, sinh sống tại Nga thực hiện, nên còn mang tính chất manh mún và không có tính chiến lược. Ngoài ra, hoạt động thương mại ấy đã không thực hiện được chức năng phản hồi và chuyển tải những tín hiệu của thị trường cho sản xuất trong nước. Công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường ngoài nước đã được chú trọng hơn trước, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Các doanh nghiệp vẫn phải tự lo là chính, nên thiếu sự phối hợp, thiếu thông tin về các đối tác, cũng như về thị trường hai nước.

Việc khôi phục và phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn hiện nay đặt ra yêu cầu tiếp cận theo tư duy mới. Thực tế Liên bang Nga không còn là thị trường để Việt Nam tiếp tục khai thác theo phương thức truyền thống, mà phải coi Nga như một thị trường mới, không còn "dễ tính" như trước. Trong hoạt động ngoại thương, Việt Nam cần nhập khẩu từ Nga nhiều mặt hàng có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế như nguyên - nhiên vật liệu, hóa chất, máy móc, thiết bị giao thông - vận tải..., kể cả các loại hàng hóa đặc biệt phục vụ cho an ninh - quốc phòng. Các loại hàng hóa này phù hợp với trình độ tiếp nhận và khả năng thanh toán của Việt Nam. Liên bang Nga là thị trường xuất khẩu quan trọng và giàu tiềm năng với khoảng 150 triệu dân, thu nhập và sức mua đang tăng, thị trường có nhu cầu về một số hàng hóa Việt Nam có lợi thế so sánh và có khả năng cung cấp. Bởi vậy, muốn tiến tới cân bằng hơn trong cán cân thương mại và đạt tới mục tiêu một tỷ USD kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nước trong thời gian tới, xin nêu một số kiến nghị bước đầu như sau:

- Xúc tiến nhanh việc thương thảo để đi đến ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên bang Nga. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, bởi lẽ các khung pháp lý đã có, nhưng các cản trở trong hoạt động thương mại song phương còn khá nhiều. Hy vọng Hiệp định Thương mại tự do sẽ giảm dần các rào cản để tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động thương mại giữa hai nước.

- Ký kết các thỏa thuận về thủ tục kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. Cần có sự thống nhất giữa hai quốc gia về các thủ tục kiểm tra thú y, đồng thời thỏa thuận công nhận lẫn nhau về các giấy chứng nhận chất lượng hàng hóa nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hai nước; hoặc thừa nhận giấy chứng nhận chất lượng của một số hàng hóa giám định.

- Ký kết các thỏa thuận về thanh toán. Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần thỏa thuận với các ngân hàng thương mại Liên bang Nga thực hiện chiết khấu chứng từ xuất khẩu thông qua các công ty tài chính hoặc ngân hàng nước thứ ba. Trong trường hợp cần thiết cho phép họ cấp hạn mức tín dụng cho ngân hàng thương mại Nga, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Nga được tài trợ, bảo lãnh khi nhập hàng của Việt Nam. Ngoài ra, cần đàm phán tiếp tục với ngân hàng của Liên bang Nga về hình thức thanh toán hàng đổi hàng... để giúp các doanh nghiệp Việt Nam có độ an toàn trên thị trường Liên bang Nga, mở rộng quan hệ bạn hàng, tăng kim ngạch trao đổi hàng hóa lẫn nhau.

- Đàm phán để Liên bang Nga tạo điều kiện cho Việt Nam trong việc phát triển hạ tầng cho thương mại, nhất là mặt bằng để thành lập các trung tâm thương mại, trung tâm giới thiệu sản phẩm hay các cơ sở liên doanh chế biến hàng nông sản của Việt Nam trên lãnh thổ của Nga.

- Hoàn thiện quản lý các chiến lược cấp quốc gia về phát triển các ngành hàng xuất khẩu và phát huy lợi thế so sánh. Tổ chức thực hiện và kiểm soát các chiến lược cho từng ngành hàng xuất khẩu. Xác định lợi thế của từng loại hay từng nhóm hàng hóa của Việt Nam ở thị trường Liên bang Nga. Bên cạnh đó, xác định lại một số mặt hàng trọng điểm trong cơ cấu xuất nhập khẩu với Liên bang Nga để tập trung vốn đầu tư cho có hiệu quả. Nên chọn ra một số mặt hàng tiềm năng để tập trung khuyến khích đầu tư. Nghiên cứu kỹ thị trường Liên bang Nga để tiến tới có thể xuất khẩu những hàng hóa có giá trị lớn, có hàm lượng chất xám cao như linh kiện điện tử, vi tính, sản phẩm công nghệ phần mềm...

- Hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam xúc tiến thương mại. Tổ chức triển lãm định kỳ hàng xuất khẩu Việt Nam tại Liên bang Nga, Ukraine, Uzbekistan. Tăng cường hoạt động quảng bá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Liên bang Nga, kể cả thông qua việc tham gia triển lãm, hội chợ, giới thiệu hàng mẫu, catalogue, phim, băng hình v.v... Tổ chức và hỗ trợ các phái đoàn thương mại của Việt Nam đi khảo sát thị trường, trao đổi thông tin và xúc tiến thương mại, cũng như tìm kiếm các cơ hội kinh doanh, đầu tư mới. Tổ chức kênh thông tin về thị trường Liên bang Nga cho các doanh nghiệp Việt Nam.

- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ hỗ trợ cho xuất khẩu. Nhà nước nên có chính sách khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu bao gồm: nghiên cứu, dự báo thị trường, phân tích thông tin tư vấn cho doanh nghiệp; dịch vụ giao nhận và thông quan; dịch vụ phân tích tài chính (cả phân tích rủi ro về tỷ giá...); dịch vụ pháp lý... Việt Nam cần có các chính sách phù hợp, kể cả mở cửa thị trường cho các công ty cung ứng dịch vụ nước ngoài, để nhanh chóng phát triển các loại hình dịch vụ này.

- Có các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Tập trung nâng cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Liên bang Nga theo các chiến lược sản phẩm cho từng loại hàng hóa xuất khẩu. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ giao hàng, đúng mẫu và đúng chất lượng đã thỏa thuận. Loại trừ hẳn việc giao "hàng chợ", hàng thứ cấp, chất lượng và quy cách không bảo đảm sang thị trường Liên bang Nga. Phấn đấu hạ giá thành sản xuất, giảm bớt chi phí trung gian, xử lý tham số vận tải trong giá để tạo thêm sức cạnh tranh cho hàng của Việt Nam tại thị trường Liên bang Nga. Từ những nghiên cứu về thị trường Liên bang Nga, cần sớm quy hoạch những vùng sản xuất và chế biến tập trung (nhất là những hàng hóa nông sản thực phẩm) theo yêu cầu chất lượng của thị trường để hạ giá thành sản phẩm. Phương tiện vận chuyển phổ biến nhất hiện nay là container nhưng chi phí vẫn còn cao, lại không chuyên chở được những lô hàng lớn, nên cần nghiên cứu để khai thác các loại phương tiện khác, như: khai thông đường sắt liên vận quốc tế để phục vụ chuyên chở hàng hóa; thành lập Công ty vận tải biển chuyên chở hàng hóa đi Viễn Đông và Biển Đen với hành trình ổn định để chuyên chở khối lượng lớn hàng hóa nhằm tạo thuận lợi và giảm chi phí cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Tính toán để áp dụng phương thức liên hợp cho việc vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam đến Liên bang Nga và ngược lại.

Kịp thời đổi mới phương thức kinh doanh cho phù hợp với tình hình và đặc điểm thị trường Liên bang Nga hiện nay. Tạo các điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện phương thức bán hàng ký gửi, lập kho ngoại quan, mở các chuỗi cửa hàng bán lẻ hàng hóa Việt Nam tại các thành phố lớn ở Liên bang Nga, trước mắt tập trung thực hiện ở một số trung tâm kinh tế và các thành phố lớn như Moscow, Saint Petersburg, Novgorod.

- Cần có một cơ chế quản lý thông thoáng hơn để doanh nghiệp chủ động trong các giao dịch tìm kiếm bạn hàng mới. Phải chăng nên có các chính sách đặc thù cho các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh trên thị trường Liên bang Nga. Khi đã giao vốn và thuế vốn, nên bỏ thuế lợi tức mà áp dụng tỷ lệ tăng trưởng vốn. Việc kiểm tra các doanh nghiệp nên xem xét trên phương diện bảo toàn và tăng trưởng vốn, cũng như khả năng hoạt động có hiệu quả, chứ không tiến hành thường xuyên các biện pháp thanh tra, kiểm tra tài chính như hiện nay. Ngoài ra, cần đẩy mạnh hợp tác theo vùng lãnh thổ và địa phương để khai thác thêm tiềm năng và thế mạnh của cả hai bên trong hợp tác sản xuất, đầu tư và trao đổi hàng hóa.

- Nâng cao kỹ năng xuất khẩu và văn hóa kinh doanh, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp. Xuất khẩu sẽ không thể tăng trưởng bền vững nếu không thường xuyên trau dồi kỹ năng xuất khẩu và văn hóa kinh doanh. Kỹ năng xuất khẩu tiên tiến bao gồm những vấn đề như sàn giao dịch, thương mại điện tử... trong khi văn hóa xuất khẩu chứa đựng những nội dung như liên kết dọc, liên kết ngang, liên kết ngược, coi trọng người tiêu dùng và chữ tín trong kinh doanh...

Đẩy mạnh việc hình thành các mối liên kết tiêu thụ - sản xuất (liên kết ngược). Cần có quy định hợp lý trên cơ sở kết hợp vận động, nâng cao nhận thức cho các đối tác trong việc thực hiện các hợp đồng ký kết về đặt hàng và cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu. Với một cơ chế thích hợp thông qua chính sách giá, thuế, tín dụng xuất khẩu, cước phí vận tải, cơ chế thanh toán, tư cách pháp lý cho số người Việt Nam đang kinh doanh trên thị trường Liên bang Nga, sẽ từng bước phục hồi và tiếp tục phát triển khả năng tiêu thụ hàng Việt Nam trên thị trường này.

Có thể bạn quan tâm