Hiện tại, hệ thống cảng biển Việt Nam có hơn 24 cảng lớn nhỏ, với tổng chiều dài tuyến mép bến hơn 26 km và hơn 100 bến phao. Lượng hàng hóa được xếp dỡ qua các cảng hằng năm tăng khoảng 10%. Cụ thể: năm 2004, lượng hàng thông qua là 127,7 triệu tấn, năm 2005 đạt 139 triệu tấn. Trong vòng mười năm trở lại đây, kinh phí dành cho đầu tư xây dựng mới tăng khoảng 40%, trong khi đó lượng hàng hóa tăng hơn 300%. Như vậy, tốc độ tăng trưởng hàng hóa qua cảng biển nhanh hơn rất nhiều lần so với tốc độ đầu tư xây dựng. Trong thành tựu chung của hệ thống cảng biển có sự đóng góp to lớn của các cảng truyền thống vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các cảng Hải Phòng, Ðà Nẵng và các cảng khu vực TP Hồ Chí Minh là các cảng quan trọng, đóng vai trò chủ lực trong hệ thống cảng biển Việt Nam. Tất cả các cảng này dù có lịch sử hoạt động lâu dài hoặc mới hình thành đều có đặc điểm chung là khu hậu phương rất hẹp và chỉ thực hiện vai trò cơ bản là xếp dỡ hàng hóa. Chính vì thế, để xây dựng hệ thống cảng hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; cần phải có những bước đi đột phát, tạo hướng mới trong việc xây dựng, khai thác tối đa tiềm năng và thế mạnh của các cảng này. Cảng Hải Phòng phát triển về phía biển mà trước mắt là Ðình Vũ và tiếp theo là cửa Lạch Huyện. Cảng Tiên Sa - Ðà Nẵng phát triển sang Liên Chiểu và các khu vực khác trong vịnh Ðà Nẵng. Các cảng trên sông Sài Gòn được di dời về các vị trí khác trên sông Soài Rạp, sông Cái Mép - Thị Vải. Trong tương lai, tại khu vực vịnh Ghềnh Rái và vùng biển Vũng Tàu sẽ phát triển các dự án cảng hiện đại, có vai trò quyết định trong chuỗi kinh doanh của khu vực thương mại tự do, khu kinh tế mở...
Theo quy hoạch tổng thể của Chính phủ, bắt đầu từ năm 2000, phần lớn các dự án phát triển cảng được nghiên cứu và triển khai xây dựng đáp ứng yêu cầu của tiêu chí cảng hiện đại với khu hậu phương rộng lớn và được gắn liền các khu công nghiệp, khu chế xuất... như: Cảng Cái Lân, Ðình Vũ, Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây, Dung Quất, Cái Mép - Thị Vải... Trong số các cảng đặc biệt quan trọng ở ba vùng kinh tế trọng điểm bắc, trung, nam thì các cảng Cái Lân, Dung Quất, Cái Mép - Thị Vải là những dự án đang được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, bởi đây chính là đầu mối giao thông thủy quan trọng, giúp chúng ta thông thương thuận tiện với các nước trong khu vực và thế giới bằng đường biển.
Ðể hoàn thành tốt mục tiêu phát triển hệ thống cảng biển nước ta, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến:
Ðầu tư xây dựng các dự án cảng đạt tiêu chuẩn quốc tế, cho phép các tàu có trọng tải lớn neo cập, đầu tư các thiết bị hiện đại có năng suất cao là một yêu cầu cần thiết nhằm phát triển hệ thống cảng biển theo hướng hiện đại, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HÐH. Vì vậy, cần có những cơ chế, chính sách phù hợp và có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực hợp lý cho sự phát triển của nó.
Kinh doanh khai thác cảng biển không những mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước mà còn mang lại lợi ích tài chính cho doanh nghiệp khai thác cảng. Cho đến thời điểm hiện nay, việc đầu tư xây dựng cảng biển phần lớn được thực hiện bằng vốn ngân sách và sau đó giao cho doanh nghiệp khai thác sử dụng cảng. Thực hiện chủ trương cho thuê kết cầu hạ tầng cảng biển sẽ đưa lại triển vọng hình thành các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cảng biển bằng cách huy động mọi nguồn vốn, đặc biệt cần khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư xây dựng, khai thác cảng biển theo quy hoạch. Các nhà đầu tư, quản lý, khai thác cảng biển cần được lựa chọn trên cơ sở đấu thầu, nhà đầu tư xây dựng cảng được thu hồi vốn và lãi do công tác kinh doanh khai thác cảng đem lại.
Tăng cường huy động các nguồn vốn để đầu tư, xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng cảng biển nhằm đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, đồng thời góp phần hạn chế và giảm thiểu tiêu cực trong công tác xây dựng cơ bản.
Ðẩy mạnh áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin vào công tác quản lý và khai thác cảng; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ hàng, chủ tàu tiết kiệm thời gian, giải phóng tàu nhanh, giảm chi phí vận tải và tăng hiệu quả vốn đầu tư.
Khai thác cảng biển cũng như thực hiện những nhiệm vụ quan trọng khác, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư, công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao. Cùng với công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, vấn đề đào tạo nâng cao năng lực quản lý và khai thác cảng cần được đặt lên vị trí hàng đầu. Ðội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn giỏi và hệ thống cảng biển hiện đại với cơ chế chính sách phù hợp là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của ngành Hàng hải Việt Nam.