Nếu như Nghị định số 75/2000/NÐ-CP ngày 8-12-2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực được coi là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng thể chế công chứng ở nước ta thì Luật Công chứng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29-11-2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2007 tiếp tục hoàn thiện chế định công chứng, đưa chế định này của nước ta xích gần với thông lệ công chứng quốc tế.
Luật Công chứng ra đời, với hiệu lực pháp lý cao, tạo cơ sở nâng cao vị trí của công chứng viên và việc hành nghề công chứng trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề của công chứng viên, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, phục vụ công tác quản lý nhà nước có hiệu quả.
Công chứng được hiểu là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực là hai hoạt động khác nhau về tính chất, đối tượng và chủ thể thực hiện.
Cụ thể là: Công chứng là hoạt động mang tính chất dịch vụ công do công chứng viên thực hiện. Ðối tượng của hoạt động công chứng là các hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại... Còn chứng thực là hoạt động mang tính chất hành chính do cơ quan hành chính Nhà nước là UBND các cấp thực hiện; đối tượng của hoạt động này là các giấy tờ, tài liệu, chữ ký của cá nhân trên các giấy tờ...
Luật Công chứng chỉ điều chỉnh hoạt động công chứng, bao gồm các vấn đề như: Phạm vi công chứng, công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, thủ tục công chứng và quản lý nhà nước về công chứng. Việc chứng thực của UBND cấp huyện, cấp xã không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này mà được điều chỉnh bằng Nghị định số 79/2007/NÐ-CP ngày 18-5-2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ bản gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký.
Việc xác định rõ phạm vi giữa công chứng và chứng thực để từ đó xác định những nguyên tắc tổ chức và hoạt động phù hợp đối với mỗi loại hoạt động nói trên là đúng với chủ trương cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
Thông qua đó, tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm của mình, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch ngày một tăng cả về số lượng và tính phức tạp, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta là thành viên WTO, đồng thời khắc phục tình trạng: "Sính công chứng bản sao giấy tờ" như thời gian vừa qua.
Ðiều cần nhấn mạnh rằng, Luật Công chứng tại Ðiều 6, đã quy định rất rõ về giá trị pháp lý của văn bản công chứng: Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố là vô hiệu.
Hiệu lực thi hành và giá trị chứng cứ không phải chứng minh của những tình tiết, sự kiện nêu trong văn bản công chứng được thể hiện ở chỗ: Các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thì có hiệu lực thi hành đối với các bên trong hợp đồng, giao dịch đó và có hiệu lực với bên thứ ba.
Trong trường hợp muốn bác bỏ hiệu lực của văn bản công chứng đó thì phải kiện ra toà án và khi đó thì các tình tiết, sự kiện đã ghi trong hợp đồng, giao dịch đó sẽ trở thành chứng cứ không phải chứng minh trước tòa. Người muốn bác bỏ nó phải xuất trình được chứng cứ ngược lại.
Ðặc điểm nêu trên của văn bản công chứng có ý nghĩa rất lớn thể hiện vai trò phòng ngừa, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên trong hợp đồng, giao dịch, đồng thời hạn chế được rất nhiều các vụ kiện tụng ra tòa án, gây tốn kém, lãng phí.