Nhìn lại năm 2022

Ổn định chính sách tiền tệ trong môi trường nhiều biến động

Trong bối cảnh thế giới năm 2022 đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, kinh tế Việt Nam vẫn đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được củng cố; lạm phát được kiểm soát trong mục tiêu 4%, tăng trưởng kinh tế cả năm dự kiến ở mức khoảng 8%.
0:00 / 0:00
0:00
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ đã góp phần cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, giúp Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế. Đáng chú ý, bất chấp môi trường toàn cầu và trong nước đầy thách thức, Việt Nam vẫn là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất trong khu vực. Điều này là nhờ những nỗ lực to lớn của Chính phủ Việt Nam. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho đến nay đã điều hành linh hoạt các chính sách tiền tệ và tỷ giá để vượt qua các “cơn gió ngược” bên ngoài và trong nước.

Bảo đảm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu

Có thể thấy, 2022 là một năm đầy sóng gió đối với nền kinh tế toàn cầu; là năm mà kinh tế thế giới và trong nước khó khăn hơn rất nhiều so với đánh giá, dự báo trước đó. Diễn biến của đại dịch Covid-19 phức tạp, xung đột Nga-Ukraine và những hệ quả như gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, giá cả các hàng hóa nguyên vật liệu tăng cao, làm tăng áp lực lạm phát toàn cầu. Để kiềm chế lạm phát và bảo vệ sự ổn định tài chính, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã tăng tốc thắt chặt chính sách tiền tệ thông qua tăng lãi suất, nhất là việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất mạnh đã dẫn đến sự tăng giá mạnh của đồng USD so với nhiều loại tiền tệ khác.

Điều này đã tạo ra những áp lực lớn lên tỷ giá, lãi suất các đồng tiền, nhất là các nền kinh tế nhỏ có độ mở lớn như Việt Nam. Đồng thời, cũng đặt Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào thế khó, vừa phải cố gắng hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch, vừa buộc phải giải quyết lạm phát chi phí đẩy do các sự kiện và cú sốc bên ngoài gây ra... Trong bối cảnh đó, việc điều hành “room” tín dụng, thắt chặt chính sách tiền tệ, và nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá hằng ngày của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được đánh giá là rất kịp thời, góp phần làm giảm lạm phát, duy trì ổn định và phục hồi kinh tế.

Ổn định chính sách tiền tệ trong môi trường nhiều biến động ảnh 1

Đến thời điểm gần kết thúc năm 2022, tỷ giá USD trung tâm tăng không nhiều so với đầu năm, chỉ khoảng 2,4%.

Một điểm sáng trong nỗ lực giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát năm 2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế và trong nước ghi nhận, là điều hành linh hoạt tỷ giá. Nổi bật, là việc nới biên độ tỷ giá đã phần nào tạo ra không gian rộng lớn hơn để các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài và người dân lựa chọn cách thức tỷ giá cân bằng trên cơ sở cung cầu thị trường. Đến thời điểm gần kết thúc năm 2022, tỷ giá USD trung tâm tăng không nhiều so với đầu năm, chỉ khoảng 2,4%.

Nhưng tỷ giá USD tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tăng hơn 7%, và tỷ giá tại các ngân hàng thương mại đã tăng khoảng 9%. Sự chênh lệch mặt bằng tỷ giá hiện tại so với đầu năm theo đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại tệ. Tuy nhiên, động thái này cũng nằm trong diễn biến chung của các đồng tiền trên thế giới so với USD và thực tế đồng VND đang mất giá ít hơn. “Sự linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc áp dụng chính sách tiền tệ và ngoại hối đã làm chậm quá trình giảm giá của VND.

Từ đầu năm đến nay, VND vẫn là đồng tiền có hiệu suất cao nhất so với các đồng tiền khác trong khu vực. Điều này đã góp phần làm giảm lạm phát nhập khẩu và là một trong những yếu tố giúp lạm phát ở Việt Nam được kiểm soát tốt cho đến nay”, Tổng Giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam, Chủ tịch Nhóm Công tác Ngân hàng (BWG - thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam VBF)-bà Michele Wee đã nhận định về công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như vậy.

Cùng với tỷ giá, chính sách lãi suất, tín dụng linh hoạt trong bối cảnh nhiều thách thức cũng là kết quả đáng ghi nhận. Việc tăng lãi suất đã góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng và hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng kinh tế

Năm 2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã kiểm soát chặt chẽ tín dụng cho những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, yêu cầu các tổ chức tín dụng bảo đảm an toàn hoạt động. Bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho người dân, doanh nghiệp, nhất là đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ. Đáng chú ý, sau một thời gian dài kiên định với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 14%, thời điểm khi chỉ còn ba tuần nữa sẽ kết thúc năm 2022, khi nhận thấy tác động của tình hình thế giới đối với Việt Nam dịu bớt, nhiều chỉ tiêu vĩ mô đã cho thấy những dấu hiệu rất tích cực,... Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thêm từ 1,5-2% cho toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Điều này đã tạo dư địa khá lớn để các ngân hàng thương mại có khả năng mở rộng tín dụng cho những doanh nghiệp, đối tượng, lĩnh vực cần thiết trong nền kinh tế. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng thường xuyên chỉ đạo hệ thống các tổ chức tín dụng tích cực tham gia vào các chính sách phục hồi kinh tế của Chính phủ, nhất là gói hỗ trợ lãi suất thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, chuyển đổi số ngành ngân hàng, tài trợ chống biến đổi khí hậu,...

Năm 2023 được dự báo là một năm nhiều thách thức với mức độ phục hồi kinh tế không đồng đều giữa các nước, lạm phát cao, các điều kiện tài chính thắt chặt, chuỗi cung ứng gián đoạn, rủi ro suy giảm được dự báo ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển. Việc điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2023 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được đánh giá là khá khó khăn và thách thức khi phải cân nhắc làm sao giải quyết hài hòa giữa kiểm soát lạm phát nhưng lại chống được suy thoái kinh tế.

Trên cơ sở đó, năm 2023, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục điều hành thận trọng, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác; điều hành tăng trưởng tín dụng hợp lý, phù hợp diễn biến kinh tế vĩ mô, tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế.

Tiếp tục triển khai quyết liệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025”; tăng cường khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, qua đó bảo đảm thị trường tiền tệ, ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh, thông suốt, bền vững. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng cần tiếp tục bám sát tình hình kinh tế, tài chính quốc tế; chủ động phân tích, dự báo diễn biến thị trường tài chính-tiền tệ quốc tế để có kịch bản chủ động ứng phó phù hợp.