Xã Pu Nhi có 4.167 hộ, với 85% số hộ là đồng bào dân tộc Mông và 15% dân tộc Thái, có 14 bản, thuộc diện 135. Từ nguồn vốn các chương trình 134, 135, 500 bản, UNICEF, đến nay, xã đã được Nhà nước đầu tư xây dựng bảy công trình cấp nước sinh hoạt hệ tự chảy ở các bản Háng Trợ A, Háng Trợ B, Huổi Tao A, Huổi Tao B, Nậm Bó, Nậm Ngán A và Nậm Ngán B.
Việc xây dựng công trình cấp nước sạch ở các bản vùng cao rất khó khăn, phải đắp đập, kéo hệ thống ống dẫn nước từ dưới thung lũng lên bản. Việc vận chuyển ống dẫn nước, sắt, xi-măng, gạch... lên thi công chủ yếu dựa vào sức dân. Nhờ làm tốt công tác dân vận, nên phần lớn bà con tích cực tham gia vận chuyển vật tư. Nhiều công trình cấp nước sạch có số vốn đầu tư hàng trăm triệu đồng, nhưng cũng chỉ phục vụ cho vài chục hộ gia đình, vì đồng bào dân tộc Mông thường sống rải rác ở sườn núi cao. Tới đây, Nhà nước sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng hai công trình cấp nước sinh hoạt tại các bản Nậm Bó, Nậm Ngán B. Như vậy, xã Pu Nhi vẫn còn năm bản chưa có công trình cấp nước sinh hoạt.
Theo tập quán của đồng bào dân tộc Thái, ở đâu có nguồn nước là bà con kéo đến lập bản, sinh sống và sản xuất. Việc giải quyết tốt nước sinh hoạt đã góp phần giúp đồng bào vùng cao định cư, định canh.
Trưởng bản Nà Láu (Mường Ðăng, Tuần Giáo) Lường Văn Chiến vẫn chưa quên những ngày cán bộ Trung tâm NS-VSMTNT tỉnh lên bản xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt. Trưởng bản bảo: "Cán bộ Hậu là người Kinh nhưng thạo tiếng Thái lắm. Cán bộ lên đây giúp bà con có nước để uống, để tắm và trồng rau nữa."
Khi chưa tách tỉnh (tỉnh Lai Châu cũ), địa bàn hoạt động quá rộng, mặc dù mỗi năm tỉnh xây dựng hàng chục công trình, nhưng cũng chẳng thấm tháp gì so với nhu cầu nước sinh hoạt của đồng bào vùng cao. Vẫn còn rất nhiều bản vùng sâu, vùng xa tỉnh Ðiện Biên thiếu nước sinh hoạt, rất cần sự đầu tư của Nhà nước và các tổ chức quốc tế. Công trình cấp nước sinh hoạt bản Nà Láu được xây dựng với sự giúp đỡ của Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) gồm 12 nhà tắm và trụ vòi, phục vụ nước sinh hoạt cho 137 hộ. Công trình đã phát huy hiệu quả, góp phần không nhỏ làm thay đổi nếp sống của đồng bào vùng cao.
Chị Lường Thị Tiên đang giặt quần áo bên bể nước tại bản Nà Láu nói: "Ngày nào tôi cũng ra đây giặt quần áo, rửa rau và tắm. Có nước sạch, cuộc sống của dân bản đỡ khổ hơn trước rồi, chỉ tập trung làm ăn thôi, không phải lo đi lấy nước nữa. Các con tôi đều khỏe mạnh, không bị bệnh ngoài da và đau bụng nữa. Con gái trong bản ngày càng đẹp hơn trước".
Từ năm 1993 đến hết năm 2005, tỉnh Ðiện Biên xây dựng 47 công trình cấp nước sinh hoạt, với tổng số vốn đầu tư hơn 16,6 tỷ đồng (trong đó, vốn ngân sách Trung ương hơn 15,5 tỷ đồng). Nhờ vậy, tỉnh có 611 bản, 192.919 hộ dân (chiếm 53% số hộ dân nông thôn) được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
Theo ông Hoàng Hải Hậu, giám đốc Trung tâm nước sạch - vệ sinh môi trường Điện Biên, ngoài địa hình phức tạp, nguồn vốn đầu tư hạn hẹp, khó khăn lớn nhất hiện nay đối với tỉnh là áp dụng cơ chế quản lý công trình cấp nước sinh hoạt sau khi đưa vào sử dụng một cách hiệu quả. Thực tế cho thấy, với đồng bào các dân tộc thiểu số, do trình độ dân trí còn thấp, cho nên việc người dân tích cực tham gia bảo vệ, bảo dưỡng công trình cấp nước rất khó khăn. Bà con quen sử dụng nước từ khe, suối, nên nay bảo bà con đóng tiền để trả thù lao cho cán bộ quản lý là rất khó. Vì thế một số công trình sau khi đầu tư, đưa vào sử dụng không phát huy hiệu quả mà nguyên nhân chủ yếu là do công trình không được duy tu, bảo dưỡng.
Chủ tịch UBND xã Búng Lao (Tuần Giáo) Lường Văn Xiện cho biết: Trên địa bàn xã hiện có 13 công trình cấp nước từ nguồn vốn đầu tư của các chương trình 134, 135, UNICEF... Hầu hết các công trình sau khi được nghiệm thu đều bàn giao cho địa phương quản lý. Trước mắt, bản cử hai người tham gia bảo vệ công trình cấp nước sinh hoạt, được trả thù lao 50 nghìn đồng/tháng từ tiền đóng góp của dân. Công việc của hai người này là kiểm tra xem hệ thống đường ống dẫn nước từ trên nguồn xuống các trụ vòi có bị hư hỏng hay không. Nhưng khi phát hiện đường ống dẫn nước bị vỡ họ cũng chỉ biết báo với xã, không biết bảo dưỡng công trình như thế nào.
Khi hỏi: "Vì sao Trung tâm NS-VSMTNT tỉnh không giúp địa phương quản lý, duy tu, bảo dưỡng công trình?" Ôngchí Hoàng Hải Hậu cho rằng, trước khi bàn giao cho địa phương quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt, trung tâm đều tổ chức tập huấn kiến thức về vận hành, bảo dưỡng công trình cho cán bộ địa phương. Nhưng trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước như các chương trình 134, 135, 500 bản, đều không hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nước cho dân địa phương. Ngoài ra, tỉnh vẫn chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích người tham gia quản lý, bảo vệ, bảo dưỡng công trình cấp nước sinh hoạt phù hợp.
Tỉnh Ðiện Biên phấn đấu đến năm 2010 có 85% số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, nhưng nếu không có giải pháp huy động vốn đầu tư, cơ chế quản lý phù hợp thì mục tiêu trên khó trở thành hiện thực.