Tướng Uây-en, tổng chỉ huy quân Mỹ ở Sài Gòn, cùng với Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân ngụy và Nguyễn Văn Thiệu bàn kế hoạch phòng thủ từ xa mà Viên và Uây-en đã thống nhất trong chuyến đi Phan Rang trước đó vài ngày. Họ nhất trí sáp nhập Ninh Thuận, Bình Thuận vào Quân khu 3 và lập bộ chỉ huy tiền phương ở Phan Rang. Thị xã này sẽ là địa đầu của tuyến phòng ngự kéo dài qua Xuân Lộc nhằm bảo vệ Sài Gòn. Cả ba người tin rằng, với tuyến phòng thủ (vừa phác trên bản đồ) này, quân lực Việt Nam cộng hòa sẽ đứng vững được đến mùa mưa.
Một chi tiết ngay lúc đó có thể tướng Uây-en chưa biết. Vì sao Thiệu dễ dàng chấp nhận tuyến phòng thủ bắt đầu từ Phan Rang? Phan Rang có làng Ninh Chữ, quê hương của Thiệu, nơi có mồ mả ông cha của ngài tổng thống. Thiệu xác định quân đội của ông ta sẽ chiến đấu và giữ vững Phan Rang. Nhưng rồi Phan Rang sụp đổ nhanh chóng.
Phan Rang sụp đổ khiến cho làng Ninh Chữ, quê hương của Thiệu trở thành hòn đảo đơn độc. Ðối phương đã bỏ qua làng đó đằng sau đường tiến quân không nghỉ của họ.
Ðược một dân vệ chỉ cho biết nơi đặt mồ mả của gia đình Thiệu, đơn vị lính thủy đánh bộ đã hiểu vì sao họ được trao nhiệm vụ phòng thủ vùng này. Qua điện thoại, họ vừa được lệnh "hãy rút khỏi Ninh Chữ bằng cách tốt nhất có thể được". Tin chắc căn cứ Phan Rang đã "xong", những người lính tự hỏi: đã rút chạy hơn nửa chiều dài của Nam Việt Nam rồi, không còn chỗ dừng chân hay sao? Không còn!
Với lòng căm phẫn đột nhiên khơi dậy, năm người lính thủy đánh bộ đến chiếc máy ủi gần đó, bẻ khóa công tắc. Chiếc máy ủi chạy thẳng đến khu mộ gia đình Thiệu. Trong vòng năm phút, các bia đá bị lưỡi gạt nghiền nát, mặt đất bị xới tung lên, chẳng có cách nào để nhận ra những ai đã được chôn ở đây.
Năm người lính mệt mỏi rời chiếc xe ủi, chán chường lê gót ra phía biển. Ba ngày sau họ đến được Vũng Tàu bằng thuyền đánh cá. Họ không hề nghĩ rằng việc làm của họ đã được báo cáo về sở chỉ huy của tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân khu 3.
Hai ngày sau, Phan Thiết cũng rơi vào tay quân giải phóng. Ðến đây, đối phương đã kiểm soát được 20 tỉnh, trọn vẹn hai quân khu, hai phần ba miền Nam Việt Nam đã đổi chủ.
Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.
Ảnh: TL
Ngày 19-4-1975, có một gặp gỡ tay ba: Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên và Nguyễn Văn Toàn.
Thiệu đang ngồi trong hầm tránh bom trong dinh Ðộc Lập thì một chiếc trực thăng đáp xuống sân cỏ trước dinh. Ðại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng, Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân khu 3 xuất hiện. Mới gặp, Thiệu thấy thái độ của Toàn không bình thường. Toàn vào đề ngay, báo cáo với tổng thống một tin còn được giấu kín ba ngày nay là Phan Rang đã tiêu tan rồi, căn cứ không quân Thành Sơn đã rơi vào tay Cộng sản. Tướng Sang và tướng Nghi đã bị bắt. Hôm qua đến lượt Phan Thiết. Rõ ràng Cộng sản không cần theo đường biển, họ cứ theo quốc lộ 1 mà tiến quân.
Toàn bỗng im bặt khi nghĩ đến làng Ninh Chữ. Nhưng rồi Toàn thấy phải báo cáo rõ với Thiệu chuyện lính thủy đánh bộ ủi sập mồ mả gia đình Thiệu. Mặt Thiệu trắng bệnh, tay run run. Cuối câu chuyện, Toàn kết luận rành rọt là mọi thất bại diễn ra đều do tổng thống.
Cả Cao Văn Viên và Nguyễn Văn Toàn đều chờ đợi một sự phản ứng quyết liệt của Thiệu. Nhưng trước sự ngạc nhiên của hai viên tướng, Thiệu không nổi lôi đình như họ tưởng. Tổng thống đứng dậy, loạng choạng bước vào phòng riêng không nói một lời.
Viên và Toàn lặng lẽ nhìn nhau rồi trở lại trực thăng cùng một ý nghĩ: Sức ép với tổng thống như thế là tạm đủ. Ông ta biết mình sẽ phải làm gì.
19 giờ 30 tối 21-4-1975, Thiệu trực tiếp đọc diễn văn trước ống kính truyền hình kịch liệt đả kích Mỹ. Mới ngày nào khi được Mỹ chọn cho làm "lãnh đạo quốc gia Việt Nam", ông hết lời ca ngợi Mỹ là người bạn gần gũi, thân thiết, chí cốt, bởi lúc đó hầu bao của "quốc gia" ông đầy rẫy súng đạn và đô-la Mỹ, bây giờ trống rỗng, cho nên ông lên án "chính nước Hoa Kỳ ấy đã đẩy "đất nước" của ông vào cảnh thập tử nhất sinh vì "nước Mỹ quá xa, đô-la quá ít, kẻ địch quá gần!".
Ðể tránh xa kẻ địch, ông không còn cách nào khác là vài ngày sau, lợi dụng đêm tối, lẻn ra sân bay Tân Sơn Nhất, chuồn ra nước ngoài, vĩnh viễn gửi thân nơi đất khách quê người.
Ð.M.P st