ND - Ðã nhiều lần đến Ðiện Biên, khi đi đường bộ, khi theo đường hàng không, và từ nhiều hướng khác nhau, từ Hòa Bình lên, từ Lào Cai sang, từ Nghĩa Lộ thẳng tiến; và dù từ hướng nào thì cũng chưa bao giờ tôi không khỏi ngỡ ngàng vì phong cảnh thiên nhiên cùng vẻ trù phú của cuộc sống trên cánh đồng Mường Thanh rộng hơn 140 km2 - một trong những cánh đồng phì nhiêu nằm giữa các thung lũng trải rộng từ Nghĩa Lộ tới Ðiện Biên và từng được người Thái xếp hạng là "nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc".
Truyền thuyết của người Thái kể rằng, ngày xửa ngày xưa vùng đất này gắn liền với một người khổng lồ có sức khỏe phi thường tên là Ải Lậc Cậc. Ải Lậc Cậc được coi là người "khai sáng", đã có công khai sơn phá thạch làm nên núi đồi, ruộng đồng, sông suối ở vùng Tây Bắc nước ta. Là người khổng lồ nên công việc cũng khổng lồ, luống cày của ông đã làm nên sông Ðà, sông Hồng, còn các mô đất từ luống cày chưa kịp bừa thì làm nên các dãy núi bao quanh thung lũng. Sau khi bừa xong cánh đồng Mường Thanh để làm ruộng gieo mạ, Ải Lậc Cậc lại chuyển sang khai phá cánh đồng Mường Lò, Mường Tấc. Ngày nọ, trong lúc nghỉ ngơi cơm nước ở Mường Lò, nhìn sang Mường Thanh thấy có đàn trâu ăn mạ, sẵn nắm xôi nướng ăn dở đang cầm trong tay, ông ném luôn để đuổi đàn trâu. Về sau nắm xôi ấy đã làm nên một quả đồi mang tên Pom khảu chí - Ðồi xôi nướng, nằm trên cánh đồng Mường Thanh hôm nay...
Mường Thanh trong truyền thuyết ngày xưa và Mường Thanh của cuộc đời hôm nay dường như có một mối liên hệ nào đó, vì chính ở nơi đây, cha anh chúng ta đã làm nên một truyền thuyết mới với những sự tích thần kỳ mới. Ði qua những con đường quanh co, vượt những đoạn đường đèo dài hàng chục cây số,... lần nào tôi cũng nghĩ về những anh Bộ đội Cụ Hồ - trong đó có cha tôi, cách đây nửa thế kỷ, khi những con đường chưa được mở, khi phương tiện vận tải chủ yếu là đôi chân và đôi vai, rồi cơm không đủ no, áo không đủ ấm đã hành quân đến đây, người trước ngã xuống, người sau tiến lên, để có ngày chiến thắng. Lại nhớ những câu chuyện của cha tôi. Lần theo hồi ức đứt đoạn, nhớ gì kể nấy, tôi biết ông là bộ đội công binh đã hành quân lên Ðiện Biên mở đường chiến dịch. Nhiều đồng đội của ông đã không trở về. Tò mò về ông và bạn bè từ Hà Nội đi kháng chiến, có lần tôi hỏi:
- Tại sao ngày trước thầy tham gia Việt Minh? Ông trả lời:
- Vì thằng "chủ Tây" hống hách quá, nó coi mình như nô lệ.
Tôi lại hỏi:
- Ngày ở chiến khu gian khổ như thế, có lúc nào thầy nghĩ đến chuyện "dinh tê" về thành không? Ông trả lời:
- Thời kỳ đầu, có lúc tưởng không vượt qua được gian khổ. Một hôm thầy cùng mấy bác đi qua một chiếc cầu treo. Nhìn xuống suối, thấy Cụ Hồ và một anh bộ đội đang tắm, còn một anh đứng gác trên bờ. Thầy nghĩ, Cụ Hồ gầy yếu thế kia còn đi kháng chiến thì làm sao mình lại nghĩ đến chuyện bỏ về. Từ đó thầy không bao giờ nghĩ đến nữa. Khi các anh con lớn lên, thầy mẹ cho các anh vào bộ đội.
Cha tôi đi suốt cuộc chiến tranh, đến ngày hòa bình mới sinh ra tôi và đặt tên là Hòa. Cho nên lần nào cũng thế, lên Việt Bắc hay lên Tây Bắc là tôi lại được gặp những địa danh mà ngay từ ngày còn nhỏ tôi đã nghe cha mình nhắc đến. Ðèo Khế, Ðình Cả, Võ Nhai, Na Sầm, Ðông Khê, Thất Khê... rồi đến Nghĩa Lộ, Tuần Giáo, Pha Ðin..., là những nơi cha tôi và đồng đội của ông đã đi qua. Ði qua để có ngày hòa bình. Ði qua để có ngày không còn những ông "chủ Tây". Ði qua để được làm chủ cuộc đời mình. Thế đấy, từ gia đình mình mà ngẫm ra, tôi hiểu lòng yêu nước, lòng tự trọng dân tộc, lòng tự trọng về chính bản thân mình luôn ẩn sâu đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người dân Việt.
Ở Mường Thanh hôm nay, dấu tích của cuộc chiến đấu đầy máu lửa dằng dai suốt 56 ngày đêm vẫn còn nguyên đó. Him Lam, Ðộc Lập, Bản Kéo, đồi A1, hầm Ðờ Cát-xtơ-ri... và Bế Văn Ðàn, Tô Vĩnh Diện, Trần Can, Phan Ðình Giót - những cái tên đã in sâu vào tâm khảm dân tộc trong hơn nửa thế kỷ qua. Rồi nữa, những chiếc xe tăng, những khẩu pháo mang nhãn hiệu made in France, made in USA cùng với cái khung sắt nằm chỏng trơ ở nơi ngày trước từng chồm hỗm một khẩu trọng liên bốn nòng,... Tất cả đã hoen rỉ theo thời gian. Tất cả đã trở thành chứng tích của một chiến dịch vĩ đại đã làm nên bước ngoặt không chỉ cho dân tộc Việt Nam, mà còn góp phần thổi bùng ngọn lửa yêu nước của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Dạo bước trong Bảo tàng Ðiện Biên Phủ, tôi gặp hai người nước ngoài, một già một trẻ, đang lặng lẽ ngồi xem những thước phim, theo dõi trên sa bàn diễn biến của trận đánh mấy chục năm trước. Nhìn vẻ chăm chú của họ và nghe lời thuyết minh, tôi đoán họ từ xứ sở của V.Hu-gô, H.Ban-dắc tới đây. Nên khi đi qua dãy hòm kính trưng bày những khẩu súng, những lưỡi lê, những quả đạn, quả mìn do người Pháp mang đến Ðiện Biên Phủ năm xưa, tôi đã không khỏi rùng mình khi nhìn thấy một khẩu súng phun lửa. Vẻ lạnh lùng, gớm ghiếc của khẩu súng làm tôi tự hỏi không biết hai người Pháp kia có rùng mình khi nhìn thấy nó, và ở nơi suối vàng, C.L.Mông-tét-xki-ơ, J.J.Rút-xô sẽ nghĩ gì nếu biết rằng lớp hậu sinh của các ông từng chế tác ra những con quái vật phun ra lửa chỉ để sát hại những người yêu nước vô tội?
Mấy chục năm qua, bất cứ người Việt Nam nào đến với Ðiện Biên Phủ đều không thể không một lần thắp nén tâm nhang trong Nghĩa trang Liệt sĩ dưới chân đồi A1. Hàng nghìn tên tuổi liệt sĩ đến từ mọi miền Tổ quốc, và hàng trăm ngôi mộ liệt sĩ vô danh. Tôi đã gặp những nghĩa trang như vậy ở Bến Dược, ở Trường Sơn, ở Ðường 9, ở Hà Tĩnh... Tôi vẫn nhớ cảm giác rất khó diễn tả khi đứng trong ngôi nhà mái vòm ở Bến Dược - Củ Chi, trong một không gian yên tĩnh đến lặng người, thành kính ngước nhìn những tấm bia đá ghi danh sách hàng vạn liệt sĩ từ hơn bốn chục tỉnh, thành phố cả nước đã ngã xuống trước cửa ngõ Sài Gòn. Tôi vẫn nhớ, ở Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn có mấy ngôi mộ được gắn hai chiếc bia ghi tên tuổi của hai liệt sĩ ở hai miền quê khác nhau; và tôi tự giải thích với mình rằng có lẽ thân nhân của các anh cũng hiểu người nằm dưới nấm mộ ấy chưa hẳn đã là chồng, là con của mình, nhưng dù sao đó cũng là một sự an ủi tâm linh đối với người còn sống. Còn ở Ðiện Biên này, nỗi day dứt đối với tôi dường như lớn hơn bởi những người chiến sĩ vô danh vẫn nằm đó khi chỉ còn ít ngày nữa là hơn nửa thế kỷ. Cũng tức là bằng ấy thời gian, đã có những người cha, người mẹ, những người vợ, người con vẫn sống trong nỗi nhớ thương khôn cùng. Vì thế, tôi đã muốn chia sẻ với dòng nước mắt chảy dài trên gương mặt của các chị, các em hành hương đến đây. Và tôi thầm nhẩm theo hai cô gái Bến Tre - tôi biết họ ở Bến Tre sau khi đã liếc vội biển số ô-tô, đang khoác vai nhau đứng bên miệng hố bộc phá ngàn cân trên đỉnh đồi A1 và cùng hát "Ðồng chí ơi, người chiến sĩ giải phóng quân...!". Vâng, năm tháng dù có qua đi, nhưng những ngày "máu trộn bùn non" xa xưa ấy vẫn hằn sâu trong tâm thức của các thế hệ.
Nhưng dẫu sao thì cuộc sống vẫn phải hướng về phía trước. Sau năm mươi năm, Ðiện Biên Phủ đã thay da đổi thịt. Những con đường rộng thênh thang, những ngôi nhà cao tầng, những vườn hoa, những cửa hiệu, những trường học, những công trường... đã và đang mọc lên trên mảnh đất từng thấm máu của hàng vạn anh hùng. Rồi những chuyến bay Nội Bài - Mường Thanh, những chuyến xe chất đầy hàng hóa nhằm hướng Ðiện Biên và đàn bò đang khoan thai gặm cỏ bên xác những chiếc xe tăng tháp pháo gãy gục. Tất cả như toát lên sắc thái tươi trẻ của một thành phố đang lớn lên từng ngày, một thành phố của những con người nhiệt tình và đôn hậu. Ði trên đường phố sầm uất, hai chiều thẳng tắp mang tên 7-5, dễ liên tưởng tới những đường phố chạy dài như thế vốn là đặc trưng của các đô thị miền núi. Ðó là đường Hoàng Liên ở Lào Cai, đường Ðinh Tiên Hoàng ở Yên Bái... Nhưng ở Ðiện Biên Phủ, tự thân cái tên địa danh ấy lại gợi lên một cái gì khiến người ta bước đi mà không khỏi bần thần. Mùng 7 tháng 5 - ngày của chiến thắng, ngày của những người anh hùng, ngày đã ghi dấu ấn vào lịch sử dân tộc. Những lần trước lên Ðiện Biên, ngoài những di tích lịch sử thì thành phố miền núi bé nhỏ ấy không đọng lại trong tôi nhiều lắm, ngoài những chiếc khăn piêu, bộ xửa-cóm của các cô gái Thái thấp thoáng dưới bóng nhà sàn. Còn hôm nay, giữa cánh đồng Mường Thanh lộng gió, dưới bầu trời xanh mướt của một ngày xuân đã là một thành phố mà ai đó đã đến đây đều sẽ mong có ngày trở lại. Vì nơi ấy là Ðiện Biên Phủ!
NGUYỄN HÒA