Cho đến bây giờ nhạc sĩ Huy Thục vẫn không khỏi bâng khuâng mỗi khi cầm trên tay quyển sổ nhạc với bút tích của người bạn, người đồng chí thân thiết - nhạc sĩ Hoàng Việt.
Hà Nội, một ngày đầu đông, chúng tôi có mặt tại nhà nhạc sĩ Lê Huy Thục. Căn nhà cấp bốn đơn sơ, bộn bề với những tấm bằng khen, bản phổ nhạc, những bút tích mà ông luôn gìn giữ như những kỷ vật “vô giá”. Trong đó, có một kỷ vật được nhạc sĩ nâng niu, trân trọng, đã theo ông suốt chiến trường đến tháng năm ở Hungari, đó là quyển tập với bút tích của cố nhạc sĩ Hoàng Việt. “Quyển sổ này giờ không mấy ai biết, vợ Hoàng Việt tận miền nam chưa một lần được thấy”, nhạc sĩ Huy Thục chia sẻ.
Quyển sổ đóng bìa bằng giấy gió, kẹp vải xanh, đã ố vàng, nhưng nét chữ còn đen óng ánh. Sau lời đề tặng là bài “Tình ca” do chính nhạc sĩ Hoàng Việt chép tay, tiếp theo là những bài hát của nhạc sĩ Huy Thục sáng tác để tặng người bạn của mình. Quyển sổ là dấu ấn của tình bạn nhưng nó còn hé mở cho bạn đọc hoàn cảnh ra đời của một bản “Tình ca” đã đi vào bất tử.
Nhấp chén trà, nhạc sĩ Huy Thục nhớ lại: Ngày đó, khóa đầu tiên của Trường Âm nhạc Việt Nam có bốn người là nhạc sĩ quân đội, do Tổng cục Chính trị cử đi, đó là: Nguyễn Thành, Ngô Huỳnh, Hoàng Việt và Huy Thục. Nghe Huy Thục kéo đàn violon hay, một hôm thầy giáo Tạ Phước bảo: “Sắp tới sẽ bố trí Huy Thục học lớp violon do một nữ giáo viên nổi tiếng người Hungari giảng dạy”. Huy Thục về đơn vị Quân khu 3 báo cáo, nhưng Chính ủy quân khu là Trần Độ đã nói “Chúng tôi cử Huy Thục đi là vì có năng khiếu về sáng tác âm nhạc, còn kéo đàn violon thì sau này về đơn vị kéo cũng được”. Thế là Huy Thục ở lại học chung lớp cùng bốn nhạc sĩ quân đội, tại trường Âm nhạc Việt Nam. Bốn nhạc sĩ được quân đội thuê cho một căn nhà ở số 13 phố Cao Bá Quát. Huy Thục và Hoàng Việt ở chung một gian phòng ở tầng hai.
Những đêm đầu tiên dưới mái trường âm nhạc, Hoàng Việt là người ở xa nhất, tận miền nam tập kết ra bắc, nên luôn ám ảnh nỗi nhớ vợ, nhớ nhà da diết. Một hôm Hoàng Việt nhận được thư của vợ. Vì ngày đó bưu điện của ta ở Sài Gòn bị quân địch bao vây nên vợ Hoàng Việt phải gửi thư sang Paris, rồi từ Paris mới chuyển tiếp về Hà Nội, lúc đó địa chỉ Hoàng Việt là ở số 4 Lý Nam Đế. Nhận được thư vợ, Hoàng Việt đọc mà rưng rưng, nhớ vợ khôn nguôi.
Cả đêm hôm đó Hoàng Việt không ngủ. Lúc Huy Thục đang chìm trong giấc ngủ thì chợt nghe tiếng Hoàng Việt đánh thức mình dậy, nhìn đồng hồ đã 1 giờ 30 phút. Hoàng Việt bảo: “Thục ơi, mình vừa làm bài ca khóc vợ, Thục nghe thử xem”. Rồi giọng Hoàng Việt cất lên những ca từ nghe da diết “Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa… Em ơi nghe chăng lời trái tim vọng ra… Giữ lấy đức tin bền vững em ơi…”. Nghe xong Huy Thục thấy hay quá, sống mũi cứ cay cay, nhưng không biết động viên bạn thế nào. Chợt nghe dưới đường có tiếng rao của phở gánh “Phớ… ai phớ…”. Huy Thục chạy xuống đường gọi lên hai bát phở tái, cả hai cùng ăn. Hà Nội về đêm trời thêm se lạnh…
Sáng hôm sau, Hoàng Việt đạp xe ra Cửa Nam mua một quyển sổ, tự tay chép bài “Tình ca” và lời nhắn gửi tặng Huy Thục “Khi nào có xa nhau thì nhớ sáng tác nhiều ghi vào những trang giấy rộng…”.
Bút tích nhạc sĩ Hoàng Việt đề tặng nhạc sĩ Huy Thục.
Cảm kích trước tình cảm của Hoàng Việt về sau Huy Thục viết rất nhiều bản nhạc vào quyển sổ này để tặng Hoàng Việt. Đó là lý do vì sao trong nhiều bài hát của Huy Thục xuất hiện hình ảnh người vợ, người con gái phương xa trong nỗi nhớ người thương da diết. Như bài “Vì miền nam”, hay “Bắc bảy nhịp cầu”… với những ca từ “Em có hẹn ngày về. Thu kia vẫn ngăn chia nên đôi đường tình thương cách trở. Em còn mỏi mòn trông chờ…”.
Đó là những cảm xúc chân thành từ đáy lòng của hai người bạn tri âm. Nhưng ngày đó cái tôi hòa trong cái ta nên mặc dù bài hát được xem như một “bản tình ca hay nhất thời bấy giờ” nhưng một số nhận định cho rằng ca từ bài hát bi lụy, yếu đuối, cho nên không được phổ biến rộng, sau này mới gây được tiếng vang.
Bản thảo bài hát "Tình ca" do nhạc sĩ Hoàng Việt chép tay.
Năm 1958, Hoàng Việt lên đường sang Bungari học tại Nhạc viện Sofia, còn Huy Thục được cử đi tu nghiệp tại Nhạc viện Liszt ở Hungari. Sau khi về nước năm 1966 Hoàng Việt cùng một số văn nghệ sĩ vào chiến trường miền nam công tác tại Đoàn văn công Giải phóng miền nam, ông bị tử thương trong một lần đi công tác vào năm 1967, lúc bấy giờ Huy Thục đang ở chiến trường Khe Sanh, Quảng Trị.
Hơn 50 năm sau, nhạc sĩ Huy Thục đã bước trên thảm đỏ của âm nhạc, nhưng hễ nhắc đến Hoàng Việt và mái trường Âm nhạc Việt Nam khóa đầu tiên bao nhiêu ký ức trong ông vẫn như còn nguyên vẹn.
Vừa qua đoàn cán bộ Trung tâm lưu trữ Quốc gia đến xin ông những bản thảo âm nhạc viết tay, trong đó có quyển sổ nhạc bút tích Hoàng Việt, nhưng nhạc sĩ Huy Thục vẫn chưa đồng ý.