Những tấm gương bình dị mà cao quý

LTS - Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" được phát động ngày 22-4-2008, nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11-6-1948 - 11-6-2008), do ba cơ quan báo chí: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Lao Ðộng tổ chức.

Sau gần một năm phát động, với gần 900 tác phẩm dự thi, các cây bút chuyên và không chuyên đã giới thiệu, phát hiện, biểu dương hàng trăm tấm gương những con người bình thường sống quanh ta, nhưng đã có những việc làm, những hành động cao cả vì cộng đồng, vì đất nước, có ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội. Thể theo mong muốn của nhiều bạn đọc và đề nghị của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Thi đua - Khen thưởng T.Ư, ba cơ quan báo chí nói trên quyết định tiếp tục phát động Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" giai đoạn II. Ðến nay, nhiều bài viết của các tác giả gần xa đã gửi về Ban Tổ chức.

Chúng tôi chọn đăng một số bài viết trong số đó.

Người thương binh nhận giải thưởng Kazuo Itoga (Nhật Bản)

Ngoài trời mưa và có cảm giác thời tiết đã bắt đầu se lạnh. Trong phòng khám bệnh của Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo và người tàn tật tỉnh Bến Tre, có một người đàn bà đang co ro trên một chiếc ghế dựa, trong lòng bà là đứa nhỏ chừng 10 tuổi. Vâng, con bà, đang mắc chứng bệnh tim, thở từng hồi, từng chập một, như thể dốc hết sức lực. "Ông Năm ơi, cứu con!", đứa bé nói và nhìn ông với đôi mắt tròn xoe, hy vọng. Chứng kiến cảnh tượng bữa ấy, ai cũng rơi nước mắt. Ông Năm đó chính là Chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo và Người tàn tật tỉnh Bến Tre, tên thật của ông là Huỳnh Văn Cam.

Giành lại sự sống cho đời

Biết ông không thích nói nhiều về mình, nên tôi đi thẳng vào đề: "Ông cống hiến nhiều, đã về hưu, sức khỏe có hạn, cuối đời sao lại nhận thêm nhiệm vụ nặng nề như vậy?". Ông chỉ nói gọn: "Nghèo thường đi liền với khổ. Nghèo mà còn bị bệnh kéo dài thì khổ biết chừng nào. Chứng kiến người nghèo lại mang bệnh nặng, cầm toa thuốc mà túi không còn tiền, nên không dám bước vào tiệm thuốc, hay gặp những gia đình nghèo ở nông thôn ôm con bệnh tim không còn hy vọng vì không có tiền để phẫu thuật. Thấy mà đau nhói lòng".

Vẫn như vậy, không muốn nói nhiều về mình, ông Năm chuyển sang kể về hoạt động của Hội: "Cho đến nay, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo và người tàn tật tỉnh Bến Tre đã thực hiện Chương trình hỗ trợ phẫu thuật tim bẩm sinh cho trẻ em nghèo, cứu giúp được hơn 300 em; Chương trình phẫu thuật đem lại ánh sáng cho hơn 12.000 người mù nghèo; Chương trình khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho hơn 150.000 lượt người nghèo; Chương trình cấp xe lăn cho người tàn tật đạt 2.000 chiếc; Chương trình học bổng và dạy nghề cho học sinh mồ côi, khuyết tật mở được hai lớp, thời gian gần ba năm; các bếp ăn từ thiện cho người bệnh nghèo ở các bệnh viện trong tỉnh duy trì liên tục nhiều năm liền, mỗi ngày trung bình 1.000 suất ăn. Ngoài ra, còn có các chương trình khác như tặng học bổng, cấp xe đạp, xây dựng nhà ở, tặng quần áo, màn, sữa, thuốc trị bệnh cho đồng bào nghèo". Bảy năm là bảy chương trình. Ông kể say sưa.

Tất cả khởi đầu từ tay không. Hội có được cơ ngơi như ngày hôm nay, theo ông, đó là sự cố gắng rất lớn. Vừa qua, với kết quả đã đạt được, trong buổi tổng kết 5 năm hoạt động Hội, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thái Xây khẳng định: Hội "là cầu nối tích cực giữa những tấm lòng nhân ái với người bệnh nghèo khổ đang cần sự cứu giúp. Là nhịp cầu nhân ái tiếp tục thắp sáng lên truyền thống tương thân, tương ái và nêu cao ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Thành quả hoạt động của Hội rất đáng được trân trọng". Tôi hiểu, cái "rất lớn" mà ông Năm nói ở đây không phải là đồ sộ về nhà cửa hay phương tiện, mà chính là tấm lòng. Sâu xa hơn, không chỉ là con số 60 - 70 tỷ đồng quyên góp được cho người nghèo, cho người bệnh, mà chính từ hoạt động của Hội, đã cứu sống 300 mạng người; đã làm cho hàng chục nghìn người mù nghèo sáng mắt, đi lại bình thường và nhìn thấy được cuộc đời tươi đẹp, sự thay đổi của quê hương, để "cảm ơn Ðảng, cảm ơn Nhà nước đã cứu tôi sống lại lần thứ hai"; hàng nghìn người tự vận động, đi lại mà không cần sự trợ giúp của người thân, rũ bỏ mặc cảm trước đây, tự nuôi sống bản thân mình; hàng chục nghìn mảnh đời tưởng chừng đi vào ngõ cụt, nhưng lại được cắp sách đến trường và có nhà ở,... Ðó, không chỉ góp phần thiết thực cho mục tiêu xóa đói nghèo, mà còn là khẳng định trong tâm trí người nghèo, trong cộng đồng về một chế độ xã hội tốt đẹp.

Nâng đỡ những số phận không may

Cách đây hơn 20 năm, lúc còn là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre phụ trách khối văn xã, ông Năm có tiếp hai vị khách là Thầy thuốc Nhân dân Tạ Thị Chung (Bệnh viện Từ Dũ) và bà Akemi Bando, một nhà giáo có tiếng ở Nhật Bản về lòng tận tụy với trẻ em khuyết tật, nhân chuyến thăm các nạn nhân chất độc da cam ở Bến Tre. Bà Bando không cầm được nước mắt khi vuốt ve một bé gái nằm oằn oại trên giường mà thân dạng, cử động không theo điều khiển được từ não. Sau khi bà trao bộ kính hiển vi từ sự gửi gắm của bè bạn Nhật Bản, bà hỏi: "Trước mắt, các em khuyết tật ở đây cần gì?". Ông chỉ trả lời: "Các cháu đang cần 13 kg gạo/tháng và mong sao các cháu có một ngôi trường". Bà nghe rất rõ và lặng im. Một năm sau, thông qua ông Năm, bà chuyển về ba lần, tổng cộng 9.000 USD. Ðến năm 1990, bà cùng một số thành viên Hội Trợ giúp trẻ em của Nhật Bản trở lại Việt Nam. Và bà bật khóc khi thấy số tiền 9.000 USD tưởng chừng nhỏ bé chỉ để lo 13 kg gạo cho các em trong tháng, ngờ đâu, đó lại là một ngôi trường khang trang cho các em ăn, học và nghỉ.

Mối quan hệ giữa Hội Trợ giúp trẻ em Nhật Bản với Bến Tre được nảy mầm từ đó, để rồi: hàng nghìn trẻ em được trả lại nụ cười trên đôi môi lành lặn từ sự giúp đỡ của Hội Hở môi - hàm ếch do tiến sĩ y khoa Nagato Nasume (Nhật Bản) làm giám đốc. Từ hoạt động này, các bác sĩ ở Bến Tre có điều kiện sang Nhật Bản tu nghiệp, nâng cao tay nghề; hàng nghìn trẻ em nghèo, mồ côi, sống lang thang, cơ nhỡ ở Bến Tre được chăm sóc, học văn hóa, học nghề trong một ngôi trường mang tên "Hy vọng", từ sự giúp đỡ của Tổ chức Hy vọng (CHLB Ðức), để các em bước vào đời với nghề nghiệp ổn định. "Ba Năm đã cho em một điều quý nhất: tin vào chính mình, tin vào con người, tin vào chế độ" - nhiều em thổ lộ. Cũng từ bước chân không mệt mỏi của ông đi tìm nguồn lực cho những số phận không may mắn, Bệnh viện Nguyễn Ðình Chiểu (Bến Tre) đã được "sở hữu" một phòng mổ hiện đại, cứu sống nhiều người, mà với tình trạng bệnh tật ấy nếu chuyển lên TP Hồ Chí Minh là quá trễ.

Với những cống hiến nêu trên, ông được nhận Giải thưởng Kazuo Itoga - một giải thưởng hằng năm của Nhật Bản dành cho các nước châu Á về chăm lo phúc lợi xã hội hướng về người nghèo khổ. Nhưng ông chỉ coi việc làm của mình "là trách nhiệm của tôi đối với quê hương, đối với người nghèo, bệnh tật và trẻ em lang thang cơ nhỡ. Thông qua hoạt động này, tôi tìm thấy nhiều điều cần phải học ở họ, nhất là về nghị lực phi thường".

Anh Lê Huỳnh thăm một gia đình có con bị bệnh tim.

Trong dự thảo báo cáo tổng kết năm năm của hoạt động Hội vừa qua, anh em soạn thảo khi đánh giá nguyên nhân thành công có đưa vào báo cáo câu: "đồng chí Huỳnh Văn Cam là con chim đầu đàn của Hội". Nhưng ông đã gạch bỏ câu đó. Hỏi thì ông bảo: "Có gì đâu mà ghi nhận. Hồi đó đi theo Ðảng, thề dưới cờ Ðảng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Bây giờ còn hơi thở thì mình cứ làm, miễn cái gì có ích cho xã hội thì làm, còn sống năm nào, tháng nào thì làm năm đó, tháng đó. Bởi vì mình đã nếm trải rồi, cảnh nghèo của mình cũng nhờ được người giúp, giống như cho một tay vịn vậy, nên mới được như hôm nay". Ông nói tới đây tôi mới sực nhớ vì sao tên thường gọi của ông là "Lê Huỳnh". Huỳnh là họ của ông rồi, còn "Lê" là Lê Văn Thìn, bằng hữu với ông nội ông, cũng đồng thời là người trực tiếp giúp đỡ ông từ một đứa bé ở nông thôn gia cảnh khốn khó, được lên thị xã ăn học để "có một ít kiến thức, sau này phục vụ quê hương, phụng sự đất nước".

Trở về nguồn cội

Quê ông ở xã Thạnh Phú Ðông, thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, một trong những vùng quê luôn bị bom cày đạn xới, kể cả chất độc hóa học trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Sinh năm 1940, ông mồ côi cha từ hồi 10 tuổi. Ít ruộng vườn, năm anh chị em phải tựa vào đôi vai của mẹ, tự tay mẹ làm bánh rồi gánh ra chợ kiếm từng đồng lời về nuôi con. Cái may mắn trong đời ông là có người giúp đỡ cho ăn học, rồi đi làm cách mạng. Ông trải qua nhiều công tác, nhiều ngành nghề, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, từ cắt dán khẩu hiệu, tuyên truyền xung phong, đến viết lời ca phục vụ tiền tuyến. Rồi từ xã lên huyện, từ huyện về tỉnh phụ trách đoàn văn công, lãnh đạo ngành văn hóa, qua UBND tỉnh làm Phó Chủ tịch trước khi về hưu. Ông rất mê chụp ảnh, để ghi lại sự đổi thay của quê hương - một mảnh đất tình sâu nghĩa nặng". Ông còn mê viết, là tác giả của vở cải lương "Cây dừa đỏ" nổi tiếng một thời, và đang hoàn chỉnh một kịch bản sân khấu.

Về cuộc đời ông Năm, tôi nhớ một câu ở đâu đó: "Người đem lại niềm vui cho nhiều người nhất, chính là người hạnh phúc nhất". Có lẽ, ông là con người như vậy!

LÊ QUANG NHUNG

Có thể bạn quan tâm