Chúng tôi đã liên hệ với Phòng Đối ngoại - Báo chí thuộc NSA để có bài báo và những tài liệu tối mật vừa công bố, đồng thời ghi nhận ý kiến của nhiều chuyên gia Mỹ về sự kiện Vịnh Bắc Bộ.
Sự thật gây chấn động
Ngày 31-10-2005, tờ The New York Times đã gây chấn động toàn thế giới khi cho biết NSA đã cố tình giấu nhẹm suốt bốn năm qua bài báo đăng trên tạp chí nội bộ (Cryptologic Quarterly) của sử gia Robert Hanyok (làm việc cho NSA) liên quan đến những sự dối trá trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ.
Phát hiện trên có tác động rất lớn bởi nó được tung ra vào thời điểm nhạy cảm khi Chính phủ Mỹ hiện nay đang bị chỉ trích vụ thông tin tình báo dởm về “vũ khí hủy diệt” trong cuộc chiến Iraq.
Bài báo của sử gia Hanyok có tựa đề “Kinh tởm, giả dối, im lặng và cá chuồn: Bí ẩn Vịnh Bắc Bộ, 2-4/8/1964” dài 56 trang.
Là sử gia cao cấp của NSA, ông Hanyok có điều kiện tiếp xúc với những tài liệu tối mật hơn những đồng nghiệp khác nên những phát hiện của ông đã hé mở thêm nhiều chi tiết chưa từng được biết đến về sự kiện Vịnh Bắc Bộ.
Sau khi diễn giải bằng hàng loạt tài liệu, sử gia Hanyok viết: “Không có bằng chứng tình báo về một cuộc tấn công (của ngư lôi Bắc Việt - PV) và những điều gọi là bằng chứng từ các nguồn ra-đa, hệ thống định vị dưới nước...đều không có cơ sở”.
Thậm chí, Sử gia Hanyok còn phân tích rằng, “tin liên lạc” mà hải quân Mỹ nghe trộm được của Bắc Việt Nam nói về vụ tấn công ngày 2-8, không phải 4-8 như báo cáo phân tích của NSA và kết luận của chính quyền Mỹ hồi đó. Vậy chính quyền Tổng thống Johnson dựa vào “bằng chứng” nào để thuyết phục Quốc hội Mỹ cho phép đưa ra quyết định tấn công Bắc Việt Nam?
Ông Hanyok cho biết, đó chỉ là mẩu tin liên lạc của Bắc Việt Nam mà hải quân Mỹ nghe trộm, được NSA “dịch”, “tổng hợp”, “phân tích” thành báo cáo.
Tuy nhiên, theo phát hiện của sử gia Hanyok, vì là “báo cáo sau sự kiện” nên có nhiều vấn đề không rõ ràng. Tin liên lạc của Bắc Việt mà tình báo Mỹ nghe lén được và gửi về cho NSA không đề cập đến bất kỳ tàu thuyền hoặc đơn vị nào bị “hy sinh”.
Trong bài báo của mình, sử gia Hanyok còn đưa ra các phân tích thuyết phục về sự phi lý liên quan đến vấn đề thời gian khi nghe trộm, khi được gửi về cho NSA...
Theo sử gia Hanyok, toàn bộ bản “báo cáo sau sự kiện” của NSA rời rạc, không có gì rõ ràng, thậm chí tin dường như đã được nghe trộm vào ngày 3/8. Tuy nhiên, chính bản báo cáo này lại đóng vai trò chính để chính quyền Mỹ khẳng định có cuộc tấn công tối 4-8.
Không chỉ sai sót về dịch thuật: Sử gia Lầu Năm góc nói gì?
Chuung quanh vấn đề “bằng chứng”, chúng tôi đã liên hệ với ông Edward Drea - Giám đốc Phân tích và nghiên cứu, Trung tâm Lịch sử quân sự thuộc Lầu Năm góc.
Theo ông E. Drea, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara và các quan chức cấp cao khác dựa trên năm yếu tố để kết luận rằng đã thực sự xảy ra một cuộc tấn công của hải quân Bắc Việt Nam đêm 4-8 nhằm vào hai tàu chiến Mỹ.
Trong đó, quan trọng nhất là tin nghe lén cho biết “Hai con tàu” của hải quân Bắc Việt Nam “hy sinh”.
Ông Robert Hanyok (phát biểu sau khi NSA giải mật tài liệu): “Hàng loạt báo cáo tình báo cho rằng một cuộc tấn công đã xảy ra chứa đựng những lỗi phân tích nghiêm trọng, những thay đổi trong dịch thuật không có giải thích. Sản phẩm này sau đó trở thành bằng chứng chính của chính quyền Johnson về vụ tấn công đêm 4-8”.
Trước đây, người ta tin rằng đơn giản chỉ là sai sót về dịch thuật của các sĩ quan hạng trung NSA và sau khi phát hiện lỗi này đã cố tình không sửa sai. Tuy nhiên, sử gia Hanyok còn phát hiện những sự thật khác.
Đoạn quan trọng nhất trong bản gốc báo cáo gửi về Mỹ từ trạm San Miguel ở Philippines có nội dung: “... Chúng ta bắn vào hai máy bay địch và ít nhất một chiếc bị hỏng. Chúng ta hy sinh hai đồng chí, nhưng tất cả đều dũng cảm và nhận rõ nhiệm vụ của chúng ta...”.
Tổng thống Mỹ Johnson ký nghị quyết “Vịnh Bắc Bộ”.
Bản gốc từ trạm San Miguel được đọc là “comrades” (đồng chí), nhưng NSA lại “dịch” hoặc “đổi” thành “ships” (tàu) và còn sửa một số từ khác. Bản dịch số “T10-64” như là bản “báo cáo sau sự kiện” của NSA lại viết: “...Chúng ta bắn rơi hai máy bay địch trong vùng chiến sự và một chiếc khác bị hư hại. Chúng ta hy sinh hai con tàu và còn lại đều tốt. Tinh thần chiến đấu rất cao, chúng ta đang bắt đầu săn đuổi và đang chờ nhận chỉ thị”.
Sử gia Hanyok viết: “Với sự khác nhau lớn giữa các báo cáo từ trạm San Miguel và của NSA, cần tập trung sự chú ý vào hành vi trong các phân tích của NSA. Tại sao họ thay đổi bản dịch gốc của San Miguel? (dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh-PV)”.
Theo nghiên cứu của ông Hanyok, hiện chưa rõ NSA dựa trên bản gốc tiếng Việt nghe trộm được tin liên lạc của Bắc Việt Nam để “dịch” sang tiếng Anh hay đã “thay đổi” từ ngữ dựa trên bản dịch gốc gửi về từ trạm San Miguel.
Ngoài sự phân tích về lỗi dịch thuật của NSA, tác giả Hanyok cũng nhiều lần nhắc đến từ “thay đổi” trong bài báo của ông và đặt nhiều câu hỏi cho vấn đề này.
Sự kiện Vịnh Bắc bộ: Cục An ninh Mỹ mất bản gốc tin nghe trộm
Thông tin gây sốc nhất trong bài báo của sử gia Robert Hanyok thuộc Cục An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) là tài liệu được xem như “bằng chứng chính” để Mỹ phát động chiến tranh Việt Nam có thể biến mất trong tàng thư của cơ quan này.
Ông Hanyok cho biết, bản gốc bằng tiếng Việt toàn bộ bản tin liên lạc của Bắc Việt Nam mà hải quân Mỹ tại trạm San Miguel (Philippines) nghe trộm có thể không còn trong tàng thư của NSA.
Ngay cả bản dịch đầy đủ (từ tiếng Việt sang tiếng Anh) số “T162-64” gửi về cho NSA từ trạm nghe trộm San Miguel cũng biến mất (toàn bộ hoặc một phần).
Sự biến mất một cách khó hiểu hai tài liệu quan trọng này gây rất nhiều phiền toái trong hành trình tìm sự thật của sự kiện Vịnh Bắc bộ.
Không còn hai tài liệu quan trọng này để so sánh với bản dịch của NSA, sử gia Hanyok chỉ có thể “phỏng đoán” nội dung bản gốc bằng tiếng Việt qua các nhà ngôn ngữ, nhà phân tích thuộc lực lượng hải quân Mỹ ở trạm nghe trộm San Miguel và NSA, những người từng được nhìn thấy nó.
Tuy nhiên, khi phát hiện các hồ sơ còn tồn tại khác (như bản dịch số “R39-64”), sử gia Hanyok khẳng định có thể biết chính xác thông tin gửi về từ trạm San Miguel có một số từ ngữ khác với bản dịch của NSA.
Nội dung tin liên lạc của Bắc Việt Nam mà trạm San Miguel nghe trộm được xác định gửi từ tàu T-42 đến một nơi chưa rõ ở Mỹ Đức.
Chúng tôi đã được tiếp cận với 82 bản báo cáo tình báo (tiếng Anh) gửi về cho NSA từ trạm San Miguel vào cuối tháng 7 và suốt tháng 8-1964 vừa được NSA giải mật. Bản dịch (không đầy đủ) tin nghe trộm gửi về từ trạm San Miguel số “R39-64” nghe trộm tin liên lạc của Bắc Việt Nam đúng là có nội dung khác với bản báo cáo của NSA.
Thông tin gửi về cho biết Bắc Việt Nam thông báo với nhau “hy sinh hai đồng chí”, nhưng trong bản báo cáo ngày 4-8 của NSA lại viết là “hy sinh hai con tàu”.
Đúng như sử gia Hanyok cho biết, có các bản báo cáo số “T161–64” và “T163–64”..., nhưng NSA không công bố (hoặc không còn để công bố) bản báo cáo số “T162-64” là nội dung (đầy đủ) bản dịch tin liên lạc của Bắc Việt Nam do trạm San Miguel gửi về như thông tin mà sử gia Hanyok cho biết.
“Báo cáo chiến tranh” của NSA
Bản bản báo tối mật gửi đi từ Tổng hành dinh NSA ngày 4-8 (giờ Mỹ) có ý nghĩa rất quan trọng vì nó được xem là cơ sở để chính quyền Johnson xác định có xảy ra vụ tấn công đêm 4-8 (giờ Việt Nam) từ đó thuyết phục Quốc hội Mỹ cho phép ném bom miền Bắc Việt Nam.
Vì thế nhiều người Mỹ gọi nó là “báo cáo chiến tranh”. Trong 41 năm qua, Chính quyền Mỹ đã không ít lần bị Thượng viện chất vấn về việc có thực sự xảy ra vụ tấn công đêm 4-8 và họ luôn viện dẫn báo cáo của NSA về sự kiện này để chối bỏ trách nhiệm.
Dựa trên những thông tin tình báo không có cơ sở, NSA báo cáo rằng đã xảy ra cuộc đọ súng đêm 4/8 (theo thông báo từ tàu US – Maddox - PV), kết quả là hai con tàu của Bắc Việt Nam bị chìm. Để khẳng định thông tin này, báo cáo của NSA còn viện dẫn tin liên lạc của Bắc Việt Nam mà trạm San Miguel nghe trộm rằng “Chúng ta hy sinh hai con tàu” (thực ra là “hai đồng chí” - PV).
Gần cuối bản báo cáo dày 3 trang này, NSA viết: “Mặc dù thông tin ban đầu cho biết tàu T142, T146, T333 (của Bắc Việt Nam - PV) liên quan đến vụ tấn công tàu chiến Mỹ đêm 4-8, nhưng những báo cáo mới nhất lại cho rằng không con tàu nào trong số này liên quan”.
Sau đó, NSA dựa trên thông tin từ tàu Maddox để báo cáo: “Các đơn vị hải quân (Bắc Việt Nam - PV) thuộc quyền chỉ huy của hạm đội phương Nam có sở chỉ huy đóng ở Bến Thủy (gần Vinh) liên quan đến vụ tấn công thứ hai (đêm 4-8 - PV)”.
Theo nhiều sử gia Mỹ, dù NSA đã phạm những sai lầm nghiêm trọng khi “dịch, tổng hợp, phân tích” sự kiện Vịnh Bắc bộ, nhưng các nhà chức trách Mỹ không thể đổ hết trách nhiệm cho NSA vì bản báo cáo của họ chỉ có ba trang, viện dẫn những thông tin tình báo không rõ ràng, thiếu sự nhất quán, nhưng chính quyền Mỹ Johnson vẫn kết luận đã xảy ra cuộc tấn công đêm 4-8 để phát động cuộc chiến.
Che đậy 90% thông tin
Sử gia Hanyok còn cho biết thông tin bí mật liên quan đến những cuộc điều tra của các ủy ban Thượng viện Mỹ về sự kiện Vịnh Bắc bộ. Cuộc điều tra đầu tiên diễn ra đầu năm 1968 do ủy ban Quan hệ đối ngoại Thượng viện thực hiện.
Tháng 8-1975, Ủy ban Tình báo cũng tiến hành điều tra nhưng đều không thu được kết quả. Theo sử gia Hanyok, sở dĩ không thể điều tra rõ vì có tới 90% thông tin tình báo trong sự kiện này không được cung cấp cho các ủy ban điều tra của Thượng viện Mỹ dù họ đã yêu cầu.
Theo tài liệu tối mật NSA vừa công bố, ngày 27-12-1971, Phó Đô đốc Hải quân Mỹ Noel Gayler gửi một bức mật thư cho Đô đốc Fred Buzhardt giải thích về việc đã đối phó với Ủy ban Đối ngoại Thượng viện như thế nào khi họ yêu cầu được tiếp cận với tài liệu gốc sự kiện Vịnh Bắc bộ...
Sự thật
Theo sử gia Hanyok, 4 phút sau khi trạm San Miguel gửi bản tin nghe trộm về việc “hai đồng chí hy sinh”, trạm Mỹ Đức cũng gửi về một bản tin nghe trộm tương tự nói về việc hai máy bay địch xuất hiện trên biển và có thể bị hỏng.
Vì thế, theo sử gia Hanyok, có thể Bắc Việt đang nói về vụ đụng độ ở Vịnh Bắc bộ ngày 2-8. Sau khi dẫn giải bằng hàng loạt tài liệu được tiếp cận, sử gia Hanyok kết luận: “Sự thật: Hải quân Hà Nội không liên quan đến đêm đó” (đêm 4-8 - PV).
Chúng tôi đã liên hệ với các nhà khoa học Mỹ được xem là chuyên gia về sự kiện Vịnh Bắc bộ.
Sử gia Edwin Moise, ĐH Clemson, cho biết, ông bắt đầu truy tìm những bằng chứng về sự dối trá trong sự kiện Vịnh Bắc bộ từ hơn 20 năm qua.
Cuốn “Vịnh Bắc bộ và sự leo thang chiến tranh Việt Nam” là một tập hợp những tài liệu quan trọng mà ông E.Moise tiếp cận được từ nhiều nguồn khác nhau để khẳng định rằng không có vụ tấn công đêm 4-8. E.Moise tâm sự rằng, ông sẽ có thêm nhiều chuyện để nói từ những thông tin tối mật của NSA vừa được giải mật.
Theo ông E.Moise, tài liệu mới càng khẳng định những gì ông đã nói trước đây rằng dù không “ngụy tạo” vụ tấn công ở Vịnh Bắc bộ đêm 4-8, chính quyền Johnson cũng sẽ tìm ra một nguyên cớ khác để leo thang chiến tranh Việt Nam.
Nhà nghiên cứu John Prados - làm việc tại Cơ quan Lưu trữ An ninh quốc gia thuộc ĐH George Washington, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam – tâm sự, ông quan tâm đến sự kiện Vịnh Bắc bộ ngay từ khi nó xảy ra. Tháng 8-2004, chính ông Prados đã công bố nhiều tài liệu mới về sự kiện Vịnh Bắc bộ gây xôn xao dư luận. Theo ông, cần phải kiểm tra lại sự kiện đêm 4-8 dưới ánh sáng của những “bằng chứng mới” vừa được NSA giải mật.