Những nhà giáo tận tụy với nghề

Tôi gặp cô giáo Trần Thị Thiệp, Phó Chủ nhiệm Khoa Giáo dục đặc biệt (trẻ khiếm thính, khiếm thị, chậm phát triển trí tuệ) thuộc Trường đại học Sư phạm Hà Nội khi cô dẫn đoàn sinh viên xuống thực tập ở Trung tâm nuôi dưỡng trẻ khuyết tật tỉnh Hà Tây, vừa trở về. Nơi đó, đang nuôi dưỡng hơn 50 em khiếm thính (câm điếc) và các bé "con nuôi". Khái niệm "con nuôi" thật tội nghiệp và xót xa, là những trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Các cháu được trung tâm nhận nuôi. Một số cháu trong số này còn đỏ hỏn đã mắc bệnh bại liệt, bại não hoặc bệnh đao.

Ðó chỉ là một trong những chuyến thực tập của cô giáo Thiệp và các đồng nghiệp ở khoa, một khoa mà hoạt động thực hành chiếm tới 40% chương trình đào tạo. Mảnh khảnh thì mừng. Cái máu nghề ngấm vào Thiệp lúc nào không hay. Tôi hỏi Thiệp:  "Vất vả thế có lúc nào cô giáo nghĩ bỏ nghề?". "Không chị ạ. Mà cũng chẳng còn thời gian để nghĩ nữa!"

Rồi Thiệp được đi học một khóa đào tạo giáo viên dạy trẻ khiếm thính do Ủy ban II Hà Lan tài trợ, trở thành Phó Hiệu trưởng nhà trường trước khi chính thức về Khoa Giáo dục đặc biệt hiện nay. Những kinh nghiệm lăn lộn với trẻ khuyết tật, với thực tiễn Trường phổ thông Xã Ðàn trở thành vốn quý khi cô trở thành Tổ trưởng tổ khiếm thính, rồi Phó chủ nhiệm khoa. Thực tiễn cho Thiệp cùng đồng nghiệp một cái nhìn xác đáng, luôn gắn giảng dạy với nghiên cứu khoa học. Càng dấn thân vào lĩnh vực này, Thiệp và đồng nghiệp càng ngấm ý nghĩa quyết định của công tác nghiên cứu, góp phần bảo đảm chất lượng đào tạo. Nhiều hướng đi mở ra: nghiên cứu các mô hình giáo dục hòa nhập, mở rộng từ trẻ khiếm thính đến khiếm thị, đến chậm phát triển trí tuệ...; nghiên cứu các loại trẻ khó khăn ngôn ngữ, trẻ đa tật (điếc - mù; điếc - chậm phát triển trí tuệ); nghiên cứu chuyên sâu từng chuyên ngành.

Cùng với những hướng nghiên cứu phù hợp thực tiễn, các đề tài cấp bộ cũng hình thành và nay đã hoàn thành: "Xây dựng phương pháp học tập cho sinh viên chuyên ngành giáo dục đặc biệt"; "Xây dựng băng minh họa sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ một tháng tuổi đến ba tuổi". Nay, một trong những dự án lớn mà khoa đang tập trung là "Hỗ trợ phát triển can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính" nhằm làm thay đổi nhận thức của cộng đồng vì lợi ích của trẻ khuyết tật. Những giải thưởng của các hội thi sáng tạo cho giáo dục đặc biệt cũng lần lượt được khoa gặt hái...

Nhưng cô giáo Thiệp cũng chỉ là một trong 28 diện mạo của khoa, nơi tập hợp những nhà giáo, những giảng viên còn rất trẻ tuổi đời, và con tim của họ, may mắn thay, cũng rất trẻ, đồng điệu và "thành tâm" với nghề. Họ là Ðỗ Thị Thảo (Tổ trẻ phát triển chậm trí tuệ); là Hoàng Thị Nho, Nguyễn Hiệp Thương (Tổ trẻ khiếm thị); là Nguyễn Cẩm Hường (Tổ trẻ khiếm thính). Và đặc biệt là Hoàng Yến, cô giáo Chủ nhiệm Khoa, đẹp người, đẹp nết, chuyên môn vững, quản lý giỏi, được các đối tác (chuyên gia nước ngoài) tin cậy, đồng nghiệp vị nể. Hoàng Yến đang theo một khóa học bổng Funbrai tài trợ ở Mỹ. Trong câu chuyện với các thành viên của khoa, tôi nhận thấy nhắc đến chị bao giờ họ cũng dành lời ngợi khen chân thành. Ðó là phần thưởng, là hạnh phúc của một nhà giáo suốt đời vì một nghề đầy "ân đức" - giáo dục đặc biệt. Chị là một trong những người có công xây dựng khoa từ lúc còn là một trung tâm giáo dục đặc biệt của trường. Nay thì trung tâm đã có hình hài của một khoa hoàn chỉnh với bộ máy cùng những điều kiện thuận lợi về chuyên môn, nhân sự và mối quan hệ quốc tế, dần khẳng định vị thế của mình.

Phó Chủ nhiệm khoa Bùi Thị Lâm, phụ trách đào tạo cũng còn rất trẻ, mới 31 tuổi, nói rằng, đây là khoa đầu tiên trong cả nước về giáo dục đặc biệt, vì trước đó chưa một trường sư phạm nào có khoa này. Vì vậy khoa vừa có ưu thế, vừa có sự vất vả. Ưu thế là khoa có nhiệm vụ đào tạo cử nhân (hệ chính quy bốn năm và hệ không chính quy - chuyên tu ba năm) giáo dục đặc biệt.

Sau tốt nghiệp, những cử nhân này có thể giảng dạy ở các khoa giáo dục đặc biệt của các trường đại học, cao đẳng; làm cán bộ nghiên cứu lĩnh vực này cho các viện, trung tâm, hoặc giảng dạy trực tiếp các trường chuyên biệt, trường hòa nhập hoặc quản lý chuyên môn giáo dục đặc biệt ở các phòng, các sở giáo dục và đào tạo các địa phương. Dù còn trẻ, nhưng là "chị cả", khoa phải có trách nhiệm với các khoa giáo dục đặc biệt đi sau ở các trường đại học sư phạm khác.

Bổn phận nặng nề đó buộc đội ngũ giảng viên của khoa phải dựa vào chính nội lực của mình, vươn lên, bên cạnh việc mày mò khai thác thông tin, tài liệu nước ngoài trên mạng, tự viết tài liệu giáo trình phục vụ. Quá trình đào tạo đó ngẫu nhiên biến thành quá trình tự đào tạo của họ. Hầu hết đội ngũ giảng viên của khoa đều sử dụng được tiếng Anh, Pháp, Nga, Nhật Bản, giao tiếp và làm việc trực tiếp các chuyên gia nước ngoài. Phần lớn họ đều có trình độ thạc sĩ, học vị tuy chưa cao nhưng chuyên môn khá vững vàng, vì ai cũng được đào tạo cơ bản trong nước, tiếp đó học cử nhân về giáo dục đặc biệt ở nước ngoài.

Nhưng sự vất vả cũng không ít. Phần đông họ lại khá trẻ, độ chín, độ đằm của nghề ít nhiều hạn chế; chưa kể giáo trình, tài liệu biên soạn cho sinh viên ở cả ba lĩnh vực trẻ khiếm thính, khiếm thị và phát triển chậm trí tuệ còn thiếu. Mơ ước của họ là có một trường thực hành đặt ngay trong khoa cũng chưa có. Bù đắp lại phần nào, họ có một mạng lưới các trường thực hành ở các tỉnh, thành phố tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Hà Tây, Hưng Yên...

Dù vậy, ngọn lửa "thành tâm" với nghề dạy học, với ngành giáo dục đặc biệt, ở nơi họ luôn được nhen nhóm một cách hồn nhiên, âm ỉ ấm nóng từ người đi trước đến người đi sau. Tôi rất tin điều đó khi gặp cô giáo Ðỗ Thị Thảo, Phó trưởng Bộ môn trẻ chậm phát triển trí tuệ. Thảo cũng còn rất trẻ, mới 30 tuổi, quê tận Thọ Xuân, Thanh Hóa, chọn Hà Nội và mái trường sư phạm là ngôi nhà chung cho sự nghiệp của mình. Thảo kể rằng, có lúc kỷ niệm tuổi thơ về người hàng xóm cạnh nhà bị bệnh đao (chậm phát triển trí tuệ), sống cực khổ trong sự xa lánh hoặc trêu chọc của cộng đồng, phải giã gạo suốt ngày đã ám ảnh lương tâm nghề nghiệp của cô rất nhiều. Cô yêu nghề này một cách tự nguyện. Ngoài giờ dạy, cô vẫn đi làm gia sư cho hai gia đình có con bị bệnh chậm phát triển trí tuệ. Vất vả, nhưng không chỉ thuần túy là mưu sinh. Thực tiễn giúp Thảo có thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong nghề nghiệp. Tôi tin điều cô nói khi nhìn vào đôi mắt sáng, giọng nói thủ thỉ và đầy tin cậy của cô.

Buổi sáng hôm ấy, khi đến làm việc, tôi thấy mọi người tíu tít chuẩn bị một bó hoa tươi. Họ sắp chúc mừng một đồng nghiệp bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ. Mong sao lại thêm một người "thành tâm" với nghề, tôi nghĩ vậy. Và bài viết này, giống như một bó hoa nhỏ, giản dị, tặng họ, những nhà giáo của lĩnh vực giáo dục đặc biệt với lời trân trọng chúc mừng nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11.

Có thể bạn quan tâm