Những nguyên tắc quản lý gấu nuôi nhốt

Trả lời: Quy định về quản lý gấu nuôi nhốt (ban hành kèm theo Quyết định số 02/2005/QÐ-BNN ngày 5-1-2005 của Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) quy định các nguyên tắc quản lý gấu nuôi nhốt như sau:

1- Việc nuôi nhốt gấu (trừ các đoàn xiếc và vườn thú) là trái với quy định tại Ðiều 3, Nghị định số 18/HÐBT ngày 17-1-1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ, và Chỉ thị số 359/TTg ngày 29-5-1996 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 2822/VPCP-NN ngày 7-6-2004 của Văn phòng Chính phủ, tất cả các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang nuôi gấu (sau đây gọi là chủ hộ nuôi gấu) có trách nhiệm đăng ký, đánh dấu bằng thiết bị điện tử (gắn chíp) và lập hồ sơ quản lý đối với tất cả các cá thể gấu thuộc đối tượng quy định tại Ðiều 1 của Quy định này tại cơ quan Kiểm lâm cấp tỉnh hoặc tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với các tỉnh không có cơ quan Kiểm lâm. (Ðiều 1 của Quy định này như sau: Quy định này áp dụng đối với tất cả cá thể gấu đang được nuôi nhốt tại Việt Nam. Những cá thể gấu thuộc các đoàn xiếc có giấy phép hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, Thảo cầm viên Sài Gòn và Vườn thú Hà Nội thì chỉ lập danh sách gấu nuôi nhốt gửi Chi cục Kiểm lâm sở tại, không tiến hành đánh dấu bằng thiết bị điện tử).

Thời hạn đăng ký gấu nuôi nhốt trên toàn quốc là 28-2-2005. Từ ngày 1-3-2005 trở đi, tất cả các chủ hộ nuôi gấu không đăng ký, nuôi mới trái phép đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2- Sau khi lập hồ sơ quản lý, chủ hộ nuôi gấu có trách nhiệm tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng gấu cho đến hết đời của nó theo các quy định của pháp luật. Nhà nước chỉ tiếp nhận lại gấu trong những trường hợp đặc biệt và khi có đủ điều kiện.

3- Chủ hộ nuôi gấu phải trả chi phí cho việc gắn chíp gấu nuôi nhốt.

4- Việc lập hồ sơ quản lý và gắn chíp gấu nuôi nhốt không có nghĩa là Nhà nước công nhận sự hợp pháp của chủ hộ nuôi gấu không có nguồn gốc hợp pháp, mà chỉ nhằm mục đích quản lý số lượng gấu đang nuôi nhốt, chấm dứt tình trạng săn bắt gấu từ tự nhiên về nuôi.

NGUYỄN THU HÀ                
(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

----------------------------------------

Chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa

Hỏi: Ðề nghị báo cho biết các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa?

Trả lời: Nghị định số 187/2004/NÐ-CP ngày 16-11-2004 của Chính phủ quy định doanh nghiệp sau cổ phần hóa được hưởng các ưu đãi sau:

- Ðược hưởng ưu đãi như đối với doanh nghiệp (DN) thành lập mới theo quy định của pháp luật về khuyến khích đầu tư mà không cần phải làm thủ tục cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư. Trường hợp DN cổ phần hóa thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán thì ngoài các ưu đãi trên, còn được hưởng thêm các ưu đãi theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

- Ðược miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của DN cổ phần hóa thành sở hữu của công ty cổ phần.

- Ðược miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi chuyển từ công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

- Ðược duy trì các hợp đồng thuê nhà cửa, vật kiến trúc của các cơ quan nhà nước hoặc được ưu tiên mua lại theo giá thị trường tại thời điểm cổ phần hóa để ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh.

- Ðược hưởng các quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Ðất đai trong trường hợp giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất.

- Ðược tiếp tục vay vốn tại ngân hàng thương mại, công ty tài chính, các tổ chức tín dụng khác của Nhà nước theo cơ chế như đối với công ty nhà nước.

- Ðược duy trì và phát triển Quỹ phúc lợi dưới dạng hiện vật như: Các công trình văn hóa, câu lạc bộ, bệnh xá, nhà điều dưỡng, nhà trẻ để bảo đảm phúc lợi cho người lao động trong công ty cổ phần. Những tài sản này thuộc sở hữu của tập thể người lao động do công ty cổ phần quản lý.

- Sau khi công ty nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, nếu do nhu cầu tổ chức lại hoạt động kinh doanh, thay đổi công nghệ dẫn đến người lao động ở công ty nhà nước chuyển sang bị mất việc hoặc thôi việc, kể cả trường hợp người lao động tự nguyện thôi việc, thì được giải quyết như sau:

+ Trong 12 tháng kể từ ngày công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nếu người lao động bị mất việc do cơ cấu lại công ty thuộc đối tượng hưởng chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại DN nhà nước theo Nghị định số 41/2002/NÐ-CP ngày 11-4-2002 của Chính phủ thì được Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư hỗ trợ. Các đối tượng lao động mất việc, thôi việc còn lại thì được hưởng trợ cấp mất việc, thôi việc theo quy định của pháp luật lao động hiện hành và được hỗ trợ từ tiền thu của Nhà nước do cổ phần hóa công ty nhà nước.

+ Trường hợp người lao động bị mất việc, thôi việc trong bốn năm tiếp theo thì công ty cổ phần có trách nhiệm thanh toán 50% tổng mức trợ cấp theo quy định của Bộ Luật Lao động, số còn lại được thanh toán từ tiền thu của Nhà nước do cổ phần hóa công ty nhà nước quy định. Hết thời hạn trên, công ty cổ phần chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ trợ cấp cho người lao động.

NGUYỄN HUẤN
(Bộ Tài chính)

Có thể bạn quan tâm