Những người gìn giữ sản phẩm quê hương

Chiếu Tà Niên là sản phẩm được làm ra từ làng nghề dệt chiếu ở ấp Tà Niên thuộc xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành (Kiên Giang), nằm cách phường Rạch Sỏi của thành phố Rạch Giá khoảng 6 km về phía quốc lộ 63. Từ xa xưa, vùng đất Vĩnh Hòa Hiệp đã nổi tiếng với nghề dệt chiếu, được người dân khắp vùng ưa chuộng bởi nó vừa bền vừa đẹp, nằm vừa mát, vừa thoáng.

Cùng một vài người bạn ở Tà Niên, tôi thâm nhập làng nghề dệt chiếu. Vừa đến đầu ấp, tôi dò hỏi một người tên Lê Thị Sa - mọi người còn nói rõ thân thế và sự nghiệp. Bà Lê Thị Sa năm nay ngoài 60 tuổi là gia đình chính sách (vợ liệt sĩ) có bốn người con đều theo nghề dệt chiếu. Bà Sa còn có biệt danh là "Bà trùm dệt chiếu". Bởi ngay từ thuở nhỏ bà Sa đã được mọi người trong vùng biết đến như là một người có "đôi tay vàng". Bà có biệt tài dệt chiếu vừa đẹp, vừa nhanh. Bà nói: "Người ta cứ đùa thế mà, nhưng thật tình tôi cũng có chút khéo léo, chút tinh xảo của nghề nghiệp, nói chung nghề dạy nghề và sống lâu trở thành "già làng". Vả lại từ thuở xa xưa, vùng đất này đã nổi tiếng vơi nghề dệt chiếu và chiếu Tà Niên cũng đã nổi tiếng khắp vùng với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp. Tôi và mọi người ở đây cũng chỉ góp sức để giữ gìn tiếng thơm ấy!".

Hiện trung bình mỗi ngày bà Sa cùng một người phụ việc dệt được từ ba đến bốn chiếc chiếu, trong khi những cặp thợ bình thường chỉ dệt được từ một đến hai chiếc. Ðồ nghề của người thợ dệt chiếu chỉ là hai bộ khung dệt với đôi bàn tay dập bằng gỗ và mấy đôi que để xâu sợi. Là con nhà nghề, bà Sa được truyền đạt những kỹ thuật và đức tính kiên trì, cần cù của người thợ dệt chiếu, chính vì vậy bà được mọi người trong ấp tôn vinh là thợ cả. Ðể dệt nên những chiếc chiếu khít sợi, dày, bền, chắc, phối mầu hài hòa... bà Sa cũng như những người dệt chiếu trong ấp phải kiên trì thực hiện từng công đoạn rất tỉ mỉ, công phu. Cây lát sau khi thu hoạch về phải tước bỏ phần ruột, phần lá sau đó tẽ thành từ hai đến ba sợi nhỏ, phơi khô ba nắng rồi đem chia làm hai phần: Một phần để nguyên, một phần đem đi nhuộm mầu, phơi khô thêm một nắng nữa rồi mới đem vào dệt. Nghề dệt chiếu đã được rất nhiều gia đình ở Tà Niên kể cả người Khmer và người Kinh gìn giữ và duy trì đến ngày nay. Vào nhà nào cũng thấy chất những chồng chiếu lên đến nóc nhà. Không chỉ gia đình bà Sa mà nhiều gia đình trong ấp đã có ít nhất ba đời làm nghề truyền thống này. Có một thời gian nghề này ăn nên làm ra và giúp bao gia đình thoát khỏi cảnh nghèo khó. Thế nhưng trước cơn lốc của cơ chế thị trường, nhiều gia đình không duy trì được nghề đã chuyển sang nghề khác và đành gác khung dệt. Kỷ niệm lần thứ 140 Ngày mất của Anh hùng Dân tộc Nguyễn Trung Trực vừa qua, bà Sa và các con được mời tham gia dệt một chiếc chiếu lập kỷ lục - dài nhất Việt Nam với chiều ngang là 1,8 m, dài 45 m. Bà Sa tâm sự: "Hiện nay, tôi tuổi đã cao, chỉ mong truyền lại những gì mình biết cho con cháu nối nghiệp và lưu truyền nghề truyền thống của quê hương".

Ấp Ðầu Voi, thị trấn Hòn Ðất, huyện Hòn Ðất (Kiên Giang) là địa phương nổi tiếng khắp vùng với những sản phẩm làm ra từ đất (gọi chung là nghề nặn nồi). Nghề nặn nồi ở Hòn Ðất xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ 20. Nhiều người cho rằng, vị sư tổ của làng nghề là người Khmer, về sau người Việt đã học được. Vào những năm 80-90 của thế kỷ trước, làng nghề luôn nhộn nhịp người mua, người bán. Có nhiều gia đình nối tiếp nghề từ đời ông đến đời cháu, trong đó có những nghệ nhân tài hoa làm ra những mặt hàng tinh xảo. Hiện nay toàn ấp Ðầu Voi có gần một nửa trên tổng số khoảng 500 hộ của ấp với hơn 500 lao động làm nghề này. Ông Lê Văn Kiếm gần 70 tuổi đời, hơn 50 tuổi nghề được mọi người xem là một trong số những "ông trùm" của làng nghề nặn lò trong hiện tại.

Sự thăng trầm và những khó khăn về đầu ra của nghề nặn lò khiến nhiều người trong ấp chỉ coi nghề này là một nghề phụ như bao nghề khác. Có người dù gắn bó lâu năm với nghề nhưng mỗi khi có người nhắc đến còn tỏ ra mặc cảm vì làm nghề này, số tiền kiếm được chẳng đáng là bao! Nhưng với ông Kiếm thì khác. Người ta bảo ông sống chết với nghề, nghe ông tâm sự thì quả là lời nhận xét ấy thật chí lý: "Nhất nghệ tinh nhất thân vinh, tôi thà nghèo nhưng làm tốt nghề này còn hơn làm nhiều nghề nhưng chẳng nghề nào ra nghề nào". Nghề nặn lò không chỉ gắn bó cả đời ông mà còn gắn bó với cả gia đình ông. Anh Lê Văn Ngoan con trai ông Kiếm tiết lộ "Gia đình tôi cha truyền con nối theo nghề được ba đời rồi. Bây giờ thì cả gia đình có năm người  làm nghề nặn lò".

Tâm sự với tôi, ông Kiếm bảo rằng: "Nặn lò ai cũng làm được nhưng dễ mà khó. Dễ vì nguyên liệu sẵn có, không phải lấy ở xa, còn nặn sao cho đẹp thì đòi hỏi người thợ phải tinh, phải khéo, phải kiên...". Theo ông, tinh là tinh xảo, khéo là khéo léo và kiên là kiên nhẫn. Người thợ nặn lò trước tiên phải học và rèn ba đức tính đó thì mới mong sống và sống tốt với nghề. Ngày xưa đồ nặn của làng nghề chủ yếu là cà ràng, xoong, chảo, nồi, ơ, khuôn bánh khọt... Còn bây giờ sản phẩm của làng nghề rất đa dạng về chủng loại, hình thức, cũng như kích cỡ. Nếu so những sản phẩm hiện tại với những sản phẩm làm ra vài chục năm trước thì độ tinh xảo được nâng lên rất cao. Cái khó trong nghề nặn lò mà theo ông Kiếm cho biết còn ở chỗ xử lý đất sao cho không bị sạn, phải vừa mịn vừa trơn. Ðể làm được như thế, hai loại đất được trộn đều với nhau, rồi đạp cho nhuyễn, sau đó phân ra từng khối để nặn. Mà từ khâu nhào đất sao cho dẻo, cho vừa để nặn không phải ai cũng làm được. Ðó cũng là những bí quyết trong nghề. Chưa hết, công đoạn tạo hoa văn hay đánh bóng sao cho đẹp đòi hỏi sự khéo léo của đôi bàn tay. Rồi đến công đoạn nung hay còn gọi đốt lò - là công đoạn cực kỳ quan trọng phải có nhiều kinh nghiệm mới đốt lò được, làm sao cho sản phẩm không non quá hoặc già lửa, như thế mới đạt yêu cầu. Nguyên liệu dùng để đốt lò thường là rơm, củi, trấu, khi đốt lò phải xếp một lớp củi, lớp sản phẩm sao cho nhiệt độ vừa đủ. Ông Kiếm kể rằng, trước đây đốt lò chủ yếu bằng củi, có dạo củi đắt mấy trăm nghìn một mẻ, có người do non kinh nghiệm nên đốt củi lửa cháy không đều nên sản phẩm "bị sống" mất cả tiền và công. Còn đốt trấu thì tương đối dễ hơn, thuận lợi cho người đốt lò. Còn đối với ông, bất cứ khâu nào cũng trở thành quen thuộc và đơn giản. Ông Kiếm nói: "Tùy từng sản phẩm mà đốt cho lửa đều, sản phẩm nhỏ thì nhẹ lửa, như vậy sản phẩm mới không chín quá!".

Với hàng chục năm lăn lộn và cùng thăng trầm với nghề nặn lò, giờ đây mặc dù tuổi đã cao nhưng ông Kiếm vẫn là tay nặn chủ lực của gia đình. Không những vậy, ông còn tự nhào đất để nặn. Ông nói: "Mình làm thế để làm gương cho con cháu, để chúng theo nghề và cùng sống cùng chết với nghề. Mong rằng nghề nặn lò sẽ vượt qua những khó khăn trước mắt, nuôi sống được người dân ấp Ðầu Voi".

Bài và ảnh: VIỆT TIẾN

Có thể bạn quan tâm