Chẳng hạn, ý tưởng đặt tên cho giải là “Quả bóng vàng” xuất phát từ chữ “vàng” sau khi Trần Minh Chiến ghi “bàn thắng vàng” vào lưới của Myanmar. Bạn có biết, luật “bàn thắng vàng” chỉ mới được FIFA đưa vào áp dụng vài tháng trước đó và Minh Chiến chính là cầu thủ đầu tiên trên thế giới ghi được “bàn thắng vàng” ở một giải đấu cấp khu vực. Tiếc rằng, cho đến nay, chưa ai công nhận vinh dự này của Chiến.
Rồi bản kế hoạch tổ chức Quả bóng vàng đầu tiên đã được viết nguệch ngoạc trên những tờ giấy tiêu đề mang tên khách sạn Mae Ping, ở thành phố Chiang Mai và được fax về tòa soạn báo SGGP hôm sau trận bán kết SEA Games 18.
Rồi vụ trọng tài Nguyễn Tuấn Hùng điều khiển trận chung kết giải vô địch quốc gia 1996 bị cầu thủ đội khách CATPHCM phản ứng quyết liệt trên sân Cao Lãnh đã dẫn đến bản án treo giò tiền đạo Lê Huỳnh Đức, cũng là cầu thủ nhận Quả bóng vàng đầu tiên vào năm 1995.
“Tình ngay, lý gian”, hình ảnh Huỳnh Đức chạy theo trọng tài Hùng thực ra chỉ là cách phân bua thường thấy của các cầu thủ trước việc bị xử ép, nhưng lại bị cho là “đuổi đánh trọng tài”. Đức bị gạt ra khỏi danh sách bầu chọn năm 1996, nhưng Ban tổ chức vẫn hiểu được nỗi lòng của anh và mời tham dự lễ trao giải, với tư cách khách mời danh dự và còn được đại diện cho các cầu thủ nhận giải năm trước trao Quả bóng vàng cho cầu thủ đoạt giải năm sau (tiền vệ Võ Hoàng Bửu).
Năm 1997, Đức chơi xuất sắc trong cả đội tuyển quốc gia lẫn câu lạc bộ nên dễ dàng “giành” lại “Quả bóng vàng”. Người về nhì là trung vệ đội trưởng đội tuyển quốc gia Nguyễn Hữu Thắng của CLB SLNA thật tiếc lại không có mặt để nhận “Quả bóng bạc”. Có người nói, Thắng không dự vì “giận”, vì không tin mình sẽ đoạt giải, nhưng BTC thì không nghĩ thế. “Quả bóng bạc Việt Nam 1997” được Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Liên đoàn bóng đá Việt Nam khi ấy là ông Lê Hùng Dũng (nay là Phó Chủ tịch VFF) nhận thay và chuyển ra Nghệ An cho Thắng.
Một năm sau, Ban tổ chức lại tiếp tục lo lắng việc cầu thủ đoạt giải có thể giận dỗi, so bì nhau thứ hạng mà không đi nhận giải. Đó là trường hợp Lê Huỳnh Đức kém phiếu hơn Nguyễn Hồng Sơn, đành nhận “Quả bóng bạc Việt Nam 1998” sẽ không đi nhận giải. Thế nhưng, Đức vẫn bay ra Hà Nội cùng cô vợ mới cưới xinh đẹp và tươi cười trên bục danh dự cùng 2 đồng đội trong đội tuyển quốc gia (Hồng Sơn nhận QBV và Trần Công Minh nhận “Quả bóng đồng”).
Quả bóng vàng năm 1999 có một điều kỳ thú ở kịch bản tổ chức lễ trao thưởng. Một hoạt cảnh có một không hai làm náo động khán phòng và bất ngờ hàng nghìn khách tham dự. Số là năm ấy, đội tuyển Việt Nam đoạt huy chương bạc SEA Games 20 có thể xem là một thành công, nên phần đầu của buổi lễ dựng lại cảnh xuống đường mừng chiến thắng của đông đảo cổ động viên, do các diễn viên chuyên đóng vai quần chúng của một xóm lao động nghèo, có tên “xóm Hollywood”.
Họ đóng quá đạt và cùng ba danh hài Bảo Quốc, Việt Anh, Hoàng Sơn làm nên phần mở đầu có một không hai trong tất cả các lễ trao giải thưởng từ trước đến nay. Năm 1999 cũng là năm khó chọn ai là chủ nhân Quả bóng vàng, nhưng hậu vệ Trần Công Minh vượt lên trên các đối thủ đồng cân, đồng lạng nhờ phần lớn vào việc tuyên bố chia tay đội tuyển sau SEA Games 20 của anh.
Năm 2000, tuy thành tích của đội tuyển quốc gia tại Tiger Cup lần 3 còn khiêm tốn (hạng tư), nhưng các đại biểu tham gia bầu chọn không còn con đường nào khác là lựa ba người “sáng” nhất trong số họ để tôn vinh. Do kinh phí tổ chức eo hẹp, nên lễ trao giải dời vào một bar ca nhạc (M &Tôi), thay vì ở các nhà hát hay một khách sạn sang trọng như trước. Trên tinh thần “liệu cơm, gắp mắm”, các nhà tổ chức vẫn bảo đảm cho buổi lễ trao thưởng thành công trọn vẹn. Các nghệ sĩ biểu diễn tại buổi lễ năm đó chỉ nhận thù lao tượng trưng, như một cách để ủng hộ bóng đá và duy trì giải thưởng. Thật đáng quý!
Một năm sau, giải thưởng “Quả bóng vàng Việt Nam” vấp phải một khó khăn khác, cũng vì theo thói quen của các đại biểu bầu chọn thường tập trung vào thành tích của cầu thủ ở đội tuyển. Nên khi thành tích của đội U23 Việt Nam tại SEA Games 2001 quá nghèo nàn (thua ở hai trận bán kết và tranh hạng ba) thì các đại biểu bị... tắc! Đó cũng là lý do vì sao Quả bóng vàng năm ấy trao cho một thủ môn (Võ Văn Hạnh chơi cho SLNA) và lần đầu tiên một nữ cầu thủ đánh bại hàng loạt đấng mày râu để giành Quả bóng đồng (Lưu Ngọc Mai đá cho đội nữ TP Hồ Chí Minh). Thậm chí ở vòng bầu chọn đầu tiên, Mai nhận được số phiếu đề cử cao nhất.
Quả bóng vàng 2002 đánh dấu thời điểm chấm dứt của một thế hệ cầu thủ vàng bắt đầu từ thập niên 90 thế kỷ trước. Lê Huỳnh Đức chói sáng tại Tiger Cup lần 4 ở Indonesia dễ dàng vượt qua mọi đối thủ để lần thứ ba đoạt Quả bóng vàng. Một kỷ lục! Vì lẽ, một năm sau, chúng ta được làm quen với hàng loạt cái tên mới như Phạm Văn Quyến, Lê Công Vinh, Lê Quốc Vượng (SLNA), Phan Văn Tài Em, Nguyễn Minh Phương (GĐT.LA), Phan Thanh Bình (Đồng Tháp), Nguyễn Hữu Thắng (Bình Dương), Nguyễn Thế Anh (Ngân hàng Đông Á), Lê Văn Trương (Thừa Thiên – Huế), … Tiếc rằng, một vài người trong số họ như Quyến, Vượng, Văn Trương lại không tiếp tục rèn luyện, sa ngã và vướng vòng lao lý. Thật đáng trách!