Những điểm mới cơ bản của Luật Giáo dục năm 2005

Một là, hoàn thiện một bước về hệ thống giáo dục quốc dân, khẳng định vị trí của giáo dục thường xuyên, phát triển giáo dục nghề nghiệp theo ba trình độ đào tạo, tăng khả năng liên thông, phân luồng giữa các bộ phận của hệ thống. Luật quy định thống nhất việc bỏ thi tốt nghiệp tiểu học, học sinh vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, được hiệu trưởng nhà trường xác nhận trong học bạ. Luật cũng xác định những trường hợp Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định học sinh có thể học trước tuổi học vượt lớp, học lưu ban.

Tại Điều 30, quy định cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm cả trường phổ thông có nhiều cấp học, vấn đề này xuất phát từ thực tế hiện nay ở một số địa phương đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa khó khăn trong việc tổ chức các trường phổ thông cho tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông riêng biệt, do số lớp học và số học sinh không đủ theo quy định.

Luật quy định bỏ kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở. Học sinh học hết chương trình trung học cơ sở, có đủ điều kiện theo quy định thì được trưởng Phòng Giáo dục và đào tạo quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở. Việc bỏ kỳ thi này góp phần giảm bớt tốn kém cho gia đình, nhà trường và xã hội cũng như tâm lý căng thẳng trong thi cử của học sinh. Tuy nhiên, thực hiện theo phương án này đòi hỏi vừa phải đổi mới cách học, cách dạy, vừa phải nâng cao trách nhiệm của học sinh, của thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục, của gia đình và chính quyền địa phương.

Luật sửa đổi quy định dạy nghề đào tạo 3 trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng; học sinh tốt nghiệp trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng được cấp bằng nghề tương ứng với trình độ đào tạo, giáo dục đại học đào tạo bốn trình độ, trong đó đào tạo trình độ cao đẳng được quy định cụ thể đối với người có bằng tốt nghiệp THPT, trung cấp (gồm trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề) thì thời gian là từ hai đến ba năm (Luật Giáo dục năm 1998 quy định ba năm học); từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành. Về đào tạo trình độ cao đẳng cũng được bổ sung cụ thể đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành (hai năm rưỡi đến bốn năm học) và sửa đổi thời gian đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành (từ một năm rưỡi đến hai năm học). Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học (Luật Giáo dục năm 1998 quy định hai năm học). Đối với một số bằng chuyên môn đặc biệt (chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 của ngành Y, v.v...), Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ tương đương với trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở một số ngành chuyên môn đặc biệt.

Trong Luật, vị trí của giáo dục thường xuyên đã được khẳng định "hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên". Giáo dục thường xuyên hiện nay có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu thay đổi công nghệ trong sản xuất và đời sống, xây dựng xã hội học tập.

Cơ sở giáo dục thường xuyên trong Luật sửa đổi được bổ sung thêm trung tâm học tập cộng đồng được tổ chức tại xã, phường, thị trấn nhằm khẳng định về mặt pháp lý đối với hình thức tổ chức này, vốn đã phát triển rất mạnh mẽ trong mấy năm vừa qua nhằm xây dựng một xã hội học tập. Luật cũng bổ sung quy định trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện giáo dục thường xuyên lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học chỉ được liên kết với cơ sở giáo dục tại địa phương là trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh với điều kiện cơ sở giáo dục tại địa phương bảo đảm các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị và cán bộ quản lý cho việc đào tạo.

Hai là, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, xác định rõ yêu cầu về chương trình giáo dục, về điều kiện thành lập nhà trường, xác định những tiêu chí cơ bản để một trường đại học hoặc viện nghiên cứu được phép đào tạo trình độ tiến sĩ, định hướng về công tác kiểm định chất lượng giáo dục, tạo điều kiện chuyển đổi từ đào tạo theo năm học sang đào tạo theo tích lũy tín chỉ, tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục.

Các nhà làm luật đã thiết kế một điều riêng về chương trình giáo dục ở phần quy định chung, nêu những nguyên tắc và yêu cầu cơ bản về việc xây dựng, thực hiện chương trình giáo dục. Ở chương quy định cụ thể về hệ thống giáo dục quốc dân, bổ sung một số điều về chương trình giáo dục của từng cấp học và trình độ đào tạo.

Luật sửa đổi có một điều quy định về kiểm định chất lượng giáo dục (Luật Giáo dục năm 1998 chưa quy định về vấn đề này). Đây là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, kiểm định chất lượng giáo dục là một vấn đề mới. Yêu cầu đặt ra trong thời gian tới là phải xây dựng quy trình, tiêu chuẩn đánh giá và triển khai kế hoạch kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, nhằm đánh giá, phân loại năng lực, chất lượng của các cơ sở này.

Ba là, nâng cao tính công bằng xã hội trong giáo dục và tăng thêm cơ hội học tập cho nhân dân, đặc biệt là cơ hội học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, con em gia đình nghèo.

Luật sửa đổi bổ sung quy định về việc Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho các trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với các trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật do tổ chức, cá nhân thành lập. Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền để người học thuộc gia đình có thu nhập thấp có điều kiện học tập.

Luật lần này đã bổ sung nhiều quy định thể hiện chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, như quy định việc học tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1 hoặc chế độ cử tuyển được sửa đổi bổ sung nhiều vấn đề cụ thể. Việc cử tuyển được giao cho UBND cấp tỉnh căn cứ vào nhu cầu địa phương, như đề xuất chỉ tiêu cử tuyển, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển, cử người đi học cử tuyển, phân công công tác cho người được cử đi học sau khi tốt nghiệp.

Bốn là, tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục, xác định những quy phạm nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tiêu cực, xác định rõ trách nhiệm của HĐND, UBND cấp tỉnh, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, đặc biệt là các trường dạy nghề, các trường trung cấp, cao đẳng và đại học.

Luật bổ sung hai nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm cả tổ chức quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục; thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục. Bổ sung nội dung quy định việc phân bổ ngân sách thể hiện được chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với giáo dục phổ cập, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số.

Luật bổ sung quy định về những việc nhà giáo không được làm nhằm bảo vệ và nâng cao uy tín của nhà giáo cũng như thanh danh nghề dạy học; bổ sung một điều quy định các hành vi đặc thù người học không được làm.

Luật cũng xác định cơ sở giáo dục đại học được giao đào tạo ở trình độ nào thì thủ trưởng cơ sở đào tạo đó có trách nhiệm và thẩm quyền cấp văn bằng ở trình độ ấy. Điều 42 được bổ sung thêm khoản 2 quy định về điều kiện để cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, thủ trưởng cơ sở đào tạo tiến sĩ có thẩm quyền cấp bằng tiến sĩ.

Luật cũng sửa đổi, bổ sung nội dung về xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa; tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền; khẳng định quyền tự chủ của nhà trường trong việc cấp phát văn bằng, chứng chỉ; tuyển dụng; quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên, tham gia vào quá trình điều động đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên.

Năm là, khuyến khích đầu tư phát triển trường ngoài công lập, tạo cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng hoạt động của các trường dân lập, tư thục.

Luật sửa đổi quy định nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập, tư thục (không duy trì loại hình bán công). Trường dân lập là trường do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động; trường tư thục là trường do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước.

Luật có thêm một mục mới tại chương III (gồm các điều 65, 66, 67 và 68) quy định cụ thể về các chính sách đối với trường dân lập, tư thục bao gồm: nhiệm vụ và quyền hạn của trường dân lập, tư thục, chế độ tài chính, quyền sở hữu tài sản, rút vốn và chuyển nhượng vốn, chính sách ưu đãi. Khẳng định trong Luật "tài chính, tài sản của trường tư thục thuộc sở hữu của các thành viên góp vốn", đặt vấn đề "rút vốn, chuyển nhượng vốn đối với trường tư thục".

Trên đây là những điểm mới cơ bản đã được sửa đổi, bổ sung trong Luật Giáo dục năm 2005.

Thực hiện Luật Giáo dục (sửa đổi)

Về việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực giáo dục

Với việc Luật Giáo dục (sửa đổi) có hiệu lực, công tác thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực giáo dục theo Nghị định số 49/2004/NĐ-CP sẽ được tăng cường. Ông Trần Bá Giao, Phó chánh Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết:

- Nghị định số 49/2004/NĐ-CP ngày 11-4-2005 của Chính phủ tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục nhưng chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sư. Những vấn đề quan trọng nhất của xử phạt tập trung ở chương II - chương quy định về hành vi và mức xử phạt ví phạm. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục bị phát hiện trong thời gian vừa qua đều được Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu và đưa vào Nghị định để xử lý bằng biện pháp hành chính. Các quy định đều hết sức cụ thể.

Ngày 11-4-2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 49/2005/NĐ-CP (Nghị định 49/CP) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục. Sự lúng túng trong xử lý những hành vi vi phạm khi bị phát hiện trước đây đã được khắc phục kể từ ngày Nghị định 49/CP có hiệu lực.

Nghị định 49/CP gồm 5 chương, 32 điều quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả. Liên quan mật thiết với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Chương II Nghị định49/CP đã quy định chi tiết 14 nhóm hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực giáo dục và mức xử phạt như vi phạm quy định về thành lập cơ sở giáo dục và tổ chức hoạt động giáo dục, về chương trình, nội dung và kế hoạch giáo dục, về thi tuyển sinh vào các cơ sở giáo dục và thi tốt nghiệp để cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân (hành vi gây rối hoặc đe dọa dùng vũ lực ngăn cản người quản lý thi, coi thi, chấm thi...), về sử dụng nhà giáo.

Thẩm quyền xử phạt theo Nghị định49/CP thuộc về Chủ tịch UBND các cấp, Chánh Thanh tra Bộ, Sở và các Thanh tra viên.

* Ông có cho rằng vấn đề thẩm quyền xử phạt quy định trong Nghị định sẽ gặp nhiều trở ngại khi thực hiện?

- Nghị định này căn cứ vào Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính để quy định. Theo đó thì Thanh tra viên chuyên ngành được phép xử phạt. Nhưng đó cũng chính là trở ngại đầu liên. Theo thống kê từ các Sở gửi về, số lượng Thanh tra giáo dục hiện nay không nhiều.

Theo Luật Thanh tra thì Thanh tra hành chính cũng làm luôn công việc của Thanh tra chuyên ngành. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khắc phục bằng cách đề nghị các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét bổ nhiệm Thanh tra viên ở cấp Bộ và Sở. Thông thường, ít nhất 10% tổng số cán bộ công chức thuộc cơ quan Sở là Thanh tra viên thì mới bảo đảm công tác thanh tra hiện nay. Nhưng vẫn có 2/64 Sở Giáo dục hiện chưa đủ 10% Thanh tra viên theo quy định, dù 10% vẫn còn hạn chế. Tăng cường số lượng thanh tra viên là công việc lâu dài.

* Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục có thể bị xử phạt tới 100 triệu đồng, mức phạt đó có gây áp lực cho Thanh tra giáo dục khi thực hiện nhiệm vụ?

- Trong quá trình soạn thảo, chúng tôi căn cứ thực tể để định ra mức xử phạt. 100 triệu là mức phạt áp dụng cho hành vi vi phạm nghiêm trọng, như thành lập cơ sở giáo dục đại học trái phép... hành vi và mức xử phạt là tương xứng. Tuy nhiên, mức 100 triệu sẽ có sự xem xét, quyết định của Bộ trưởng.

* Việc xử phạt hành chính theo Nghị định 49/CP, với Thanh tra giáo dục là mới, nên sẽ có nhiều bỡ ngỡ, theo ông Thanh tra giáo dục nên khắc phục bằng cách nào?

- Trước đây chưa có quy định xử phạt nên việc tập huấn nghiệp vụ rất khó. Bây giờ tập trung quán triệt cho địa phương để tuyên truyền phòng ngừa, răn đe vi phạm là chính. Nghị định 49/CP đã bám theo Luật Giáo dục để tăng cường công tác Thanh tra và hạn chế vi phạm. Tôi tin là Thanh tra Bộ Giáo dục sẽ làm được và phải làm tốt. Bước đầu sẽ không tránh khỏi hạn chế, nhưng vướng đến đâu sẽ tháo gỡ dần. Xã hội "nên" đón nhận Nghị định mới này với ý thức tôn trọng pháp luật khi tham gia hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.

* Xin cảm ơn ông.

Có thể bạn quan tâm