Những "đại thụ" của núi rừng Tây Nguyên

Báo Nhân Dân trân trọng giới thiệu một số tấm gương già làng tiêu biểu.

Già làng Y-Yơh kbuôr: Mất cồng, mất chiêng là mất đi bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc

Già làng Y-Yơh Kbuôr, năm nay 69 tuổi, dân tộc Ê Ðê, sinh sống ở buôn Prông A, xã Ea Tu, TP Buôn Ma Thuột (Ðác Lắc). Buôn Prông A có 330 hộ với 1.774 khẩu, hầu hết là người Ê Ðê. Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể, tình hình phát triển kinh tế, các mặt đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã cơ bản ổn định, an ninh chính trị, trật tự trên địa bàn được giữ vững, người dân một lòng tin tưởng cách mạng, không mắc mưu các phần tử xấu kích động vượt biên trái phép. Do có truyền thống cần cù lao động, cùng thuận lợi về đất đai và sự tạo điều kiện của Ðảng, Nhà nước, người dân buôn Prông A có đời sống khá nhờ vào việc phát triển cây cà-phê.

Già Y-Yơh Kbuôr tâm sự: Ðời sống người dân khá là điều đáng mừng thế nhưng cái đáng lo cũng xuất phát từ đây. Ðó là những nét đẹp truyền thống, các phong tục tập quán của dân tộc bị mai một và không chỉ người dân mà số đông là thanh niên chưa thật sự quan tâm việc giữ gìn, phát huy, chưa biết trân trọng những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc mình. Thấy được nguy cơ này, tôi cùng với lãnh đạo và các đoàn thể địa phương, nhất là phối hợp Ðoàn Thanh niên tích cực tuyên truyền. Trong các cuộc họp của các đoàn thể, thường được lồng ghép các nội dung tuyên truyền về việc giữ gìn, phát huy nét đẹp văn hóa.

Tôi thường nói: Mỗi dân tộc đều có niềm tự hào về bản sắc văn hóa riêng. Dân tộc Ê Ðê vốn có nhiều di sản và rất độc đáo. Mặc dù trải qua hàng trăm năm, trải qua các cuộc chiến tranh nhưng không bị mai một và vẫn ăn sâu vào tâm thức của đồng bào. Người cao tuổi của dân tộc tôi thường truyền dạy đến con cháu rằng mất chiêng, mất cồng là mất đi cái hồn của dân tộc. Do vậy, việc vận động nhân dân giữ gìn chiêng, cồng cũng chính là giữ lại một phần nét đẹp truyền thống vốn có. Cùng với việc này, tôi đề xuất với chính quyền tạo điều kiện về kinh phí mở các lớp dạy nghệ thuật đánh cồng, chiêng, nhằm truyền dạy cho thế hệ sau không những biết chơi các nhạc cụ độc đáo mà còn biết trân trọng, gìn giữ các giá trị truyền thống của dân tộc.

Bản thân tôi là một già làng, bên cạnh việc gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước, vận động người dân phát triển sản xuất chăm lo đời sống vật chất, tôi tuyên truyền người dân biết trân trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vận động nhân dân tham gia tu bổ nhà Rông, bến nước, khôi phục, phát triển nghề truyền thống đan lát, dệt thổ cẩm. Ðối với các lễ hội truyền thống của đồng bào, chúng tôi vận động người dân tổ chức theo nếp sống mới trên tinh thần tiết kiệm, không gây lãng phí về thời gian cũng như tiền bạc. Năm 2005, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Ðây là niềm tự hào của cả cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Càng tự hào hơn vào dịp đó, đội cồng chiêng của làng tôi được vinh dự tham gia biểu diễn trong lễ trao quyết định tại Hà Nội. Ngoài ra, đội cồng chiêng của làng chúng tôi còn tham gia biểu diễn cho nhiều du khách trong và ngoài nước khi đến tham quan các danh lam thắng cảnh của tỉnh. Những nỗ lực của bản thân tôi đã được Bộ Văn hóa - Thông tin tặng Bằng khen cùng nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp, các ngành.

Ðược dự hội nghị lần này, bản thân tôi mong muốn sẽ được giao lưu, học hỏi nhiều kinh nghiệm hay từ các già làng của các địa phương về tổ chức các hoạt động truyền thống; tổ chức xây dựng, củng cố các đội cồng chiêng cũng như những kinh nghiệm hay về giữ gìn, bảo tồn giá trị văn hóa độc đáo các dân tộc Tây Nguyên nói chung và dân tộc Ê Ðê nói riêng.

Già làng Y mớt: Phải gương mẫu ngay trong gia đình, dòng họ mình

Ông Y Mớt, 69 tuổi, dân tộc M'Nông là già làng buôn Ðác Blao, thị trấn Kiến Ðức, huyện Ðác R'Lấp (Ðác Nông) vốn là một giáo viên Trường tiểu học Kiến Ðức, được phong danh hiệu giáo viên xóa mù chữ phổ thông cho con em trong buôn.

Già làng Y Mớt kể: Sau khi về hưu, tôi tham gia công tác xã hội và giữ nhiều chức vụ, như Phó xã trưởng, Chủ tịch MTTQ xã Quảng Tân và đến năm 2000, tôi tiếp tục được bà con bầu làm già làng kiêm Phó Chủ tịch Hội NCT. Ðể có được sự đoàn kết, một lòng theo Ðảng, trước tiên tôi nhận thấy mình phải gương mẫu, gương mẫu ngay trong gia đình mình, dòng họ mình. Trước đây đồng bào trong buôn có thói quen sống du canh, du cư, nay đây mai đó, phá rừng làm rẫy. Tôi cùng chính quyền địa phương, các đoàn thể và NCT trong buôn đứng ra vận động bà con bỏ thói quen đó để về định canh, cùng nhau làm ăn phát triển kinh tế, biết trồng cây lúa nước, cây cà-phê, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ðến nay trong buôn chỉ còn bốn hộ thuộc diện nghèo. Chúng tôi đang cùng chính quyền, đoàn thể đặt quyết tâm giúp đỡ bốn hộ này để trong buôn không còn hộ nghèo. Với cương vị của mình và là NCT, tôi đứng ra vận động, tổ chức lớp học nghề dệt thổ cẩm, với mỗi đợt khoảng 30 thanh niên, hiện các cháu đều làm được, nghề truyền thống được duy trì.

Ðối với nét đẹp văn hóa cồng chiêng, chúng tôi thường xuyên mở lớp tuyên truyền về văn hóa cồng chiêng và dạy cho lớp trẻ giá trị truyền thống của loại nhạc cụ dân tộc này. Thật đáng mừng, đến nay trong buôn đã có một đội ngũ biểu diễn công chiêng trẻ tuổi mỗi khi làng có lễ hội. Trong những ngày lễ hội này, tôi lại đứng lên khuyên bảo lớp trẻ lối sống lành mạnh, thực hiện đúng với hương ước, quy ước của buôn đã đề ra, không uống rượu say, những hủ tục cũ không có lợi cho đời sống nên loại bỏ. Không được nghe những lời của kẻ xấu xúi giục chống đối lại Nhà nước mình, chống đối lại cha ông mình. Ðối với cán bộ trẻ, ngoài việc khuyến khích học tiếng phổ thông, tôi mở lớp dạy tiếng dân tộc M'Nông cho cán bộ thị trấn để tạo điều kiện cho những cán bộ trẻ có thể sống hòa nhập, hiểu được tâm tư, nguyện vọng, đồng thời tuyên truyền được các chủ trương của Ðảng, pháp luật của Nhà nước đến bà con.

Với cương vị của mình, Già làng Y Mớt rất tự hào về gia đình mình, bởi hiện nay hai cô con gái lớn, cậu con  trai út đang theo nghề cha làm giáo viên. Anh con trai thứ ba hiện là y sĩ, đã và đang góp sức xây dựng đời sống của buôn ngày càng văn minh, hiện đại hơn.

Già làng A Hiu: Ở vị trí nào tôi cũng đi đầu

Làng Pleigroi của già làng A Hiu, 66 tuổi, dân tộc Ba Na, ở xã Chư Hreng, thị xã Kon Tum (Kon Tum) có 77 hộ, 456 nhân khẩu, trong đó có 95% số dân theo đạo Thiên chúa. Hầu hết người dân nơi đây sống bằng nghề nông, nhưng nhờ sự quan tâm của Ðảng, chính quyền, sự năng động của già làng A Hiu, đến nay không còn hộ nghèo, hộ đói, không có hộ ở nhà tạm. Trẻ đến độ tuổi đến  trường đều được đi học.

Già làng A Hiu cho biết: Sau năm 1975, đất nước thống nhất, tôi được bầu làm Phó Chủ nhiệm HTX Ðoàn kết II. Sau về công tác ở xã Chư Hreng, năm 2000 tôi được bầu làm thôn trưởng, năm 2004 được bầu làm Già làng Pleigroi và năm 2005, tôi được Ðại hội NCT xã Chư Hreng bầu làm Chủ tịch Hội NCT xã. Trước sự tín nhiệm của nhân dân trong làng, cùng sự tín nhiệm của các cụ NCT ở xã Chư Hreng, tôi thấy trách nhiệm của mình nên luôn đi đầu và vận động bà con tách hộ lập vườn, tăng gia sản xuất để xóa đói, giảm nghèo. Tôi đã vận động tách được 25 hộ. Hiện nay, những hộ này làm ăn khá lên có nhà xây, xe máy, máy thu hình. Nhờ vậy mà làng tôi hiện nay không còn hộ nghèo đói. Bản thân tôi là NCT sản xuất giỏi được đi dự Hội nghị biểu dương NCT sản xuất giỏi lần thứ nhất do T.Ư Hội NCT Việt Nam tổ chức. Ngoài việc chăm lo sản xuất, tôi còn vận động bà con chăn nuôi bò, trâu phải có chuồng trại, không được thả rông. Ðối với bà con khi đi ngủ phải có màn, ăn chín uống sôi, đau ốm, sinh đẻ phải đến bệnh viện, trạm y tế của xã. Nhờ vậy, mà ở làng không xảy ra dịch bệnh ở trâu bò, heo, gà. Ðau ốm cũng giảm hẳn, sức khỏe, tuổi thọ cũng tăng nhiều. Tôi cùng các cụ NCT trong xã vận động các cặp vợ chồng trẻ sinh hai con, ngay đứa con trai đầu của tôi cũng sinh hai con. Do đó, làng, xã không có cặp vợ chồng trẻ nào sinh con thứ ba.

Bản thân là già làng, Thôn trưởng, Chủ tịch Hội NCT xã nên mọi việc tôi đều tham gia, nhất là phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" do Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam phát động. Tôi đã vận động nhân dân trong làng xây dựng thành Làng văn hóa tiên tiến ba năm liền; trực tiếp hòa giải 15 vụ tranh chấp đất đai, 20 vụ vợ, chồng đánh nhau nay đã sống hòa thuận và hạnh phúc, giáo dục được ba cháu hư hỏng, chây lười lao động nay đã tiến bộ... Phát huy thành quả đạt được, tôi tiếp tục vận động bà con làm lại nhà Rông cho làng và được mọi người đóng góp tiền, ngày công lao động. Nay nhà Rông của chúng tôi đã  khang trang, vừa là nơi để họp dân làng, vừa là nơi vui chơi của tuổi trẻ. Theo đó, tôi vận động thành lập lại đội cồng chiêng, đội múa xoan để sinh hoạt văn nghệ vào các ngày lễ, hội của làng.

Ðể dân làng ngày càng chấp hành tốt pháp luật, tôi vận động các cụ lập quy ước, hương ước cho làng để cùng nhau chấp hành, nếu ai không chấp hành thì bị phê bình trước dân làng vào sáng thứ hai hằng tuần, vì ở thị xã Kon Tum vào sáng thứ hai hằng tuần các làng đồng bào dân tộc thiểu số đều chào cờ, hát Quốc ca. Sau đó, già làng ra thông báo kết quả làm việc tuần qua và công tác tuần tới để nhân dân thực hiện. Việc làm này đã tạo nên việc thực hiện hương ước, quy  ước được tốt hơn, tạo khí thế thi đua trong sản xuất để xóa đói, giảm nghèo, xây dựng tình đoàn kết, lòng thương yêu giúp đỡ nhau khi hoạn nạn khó khăn của dân làng nói riêng và toàn dân nói chung.

Già làng Nay Yăk: Xóa bỏ các tập tục lạc hậu, xây dựng đời sống văn hóa mới

Già làng Nay Yăk (tên thường gọi là A Ma Nhơn), dân tộc Gia Rai, năm nay 67 tuổi, hiện ở thôn A Ma Nhơn, xã Ia Piơ, huyện Phú Thiện (Gia Lai). Ông vốn là người có học vấn, từng tham gia chế độ cũ, giữ chức Phó Trưởng ty Công chánh Phú Bổn. Năm 1975 được cách mạng giáo dục, được hưởng chính sách khoan hồng của Ðảng, Nhà nước, ông đã quyết định không đi ra nước ngoài theo diện được bảo lãnh mà ở lại xây dựng quê hương. Ðược sự tín nhiệm của chính quyền và bà con, Già làng Nay Yăk đã từng được bầu giữ nhiều chức vụ như Trưởng phòng truy quét phun-rô, Trưởng ban định canh, định cư kiêm Phó Chủ tịch Mặt trận xã, Chủ tịch Hội Nông dân. Nhưng có lẽ ở vị trí là già làng, kiêm tổ trưởng hòa giải hai thôn Plei Chung và A Ma Nhơn là tâm đắc nhất, mà theo như ông tâm sự đó là thời gian ông đã làm được nhiều việc cho bà con quê mình.

Già làng Nay Yăk tâm sự: Do hậu quả chiến tranh để lại, cộng với nếp nghĩ cách làm cũ và các phong tục tập quán lạc hậu trói buộc, nên đời sống bà con quê tôi rất khó khăn. Việc này khiến tôi trăn trở, suy nghĩ sẽ làm gì đó để giúp bà con... Tôi thường xuyên tìm sách báo đọc để tham khảo, tham gia các lớp tập huấn khuyến nông, khuyến lâm do huyện tổ chức. Cùng với sự hỗ trợ tạo điều kiện của chính quyền, tôi đem những kiến thức học được phối hợp các đoàn thể quần chúng tổ chức vận động bà con định canh, định cư theo chương trình VAC, nhờ vậy đời sống của bà con  ngày càng thay đổi đáng kể. Ðặc biệt, từ khi có công trình thủy lợi Ayun Hạ, tôi cùng Hội NCT xã, tuyên truyền vận động bà con chuyển từ trồng lúa rẫy sang trồng lúa nước hai vụ. Nhiều bà con do chưa quen với tập quán sản xuất mới, tôi cùng với Hội đến thăm hỏi, động viên, hướng dẫn cách chọn giống, thâm canh, cách dùng phân bón và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để cho năng suất cao.

Ngoài ra, với vị trí là già làng, Chủ tịch Hội NCT xã, tôi vận động bà con tham gia hưởng ứng Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư", vận động bà con thực hiện nếp sống văn minh, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, tham gia đóng góp vật chất và ngày công lao động xây dựng đường giao thông, ủng hộ quỹ khuyến học, quỹ người nghèo, gây quỹ học bổng tặng các em học sinh vượt khó học giỏi... được bà con nhiệt tình hưởng ứng. Nhờ vậy đến nay, không chỉ người dân quê tôi có đời sống khá, nhà cửa khang trang, mà đường làng, ngõ xóm thông thoáng sạch đẹp được chính quyền công nhận là Khu dân cư tiên tiến của huyện.

Không chỉ gương mẫu, đi đầu trong các phong trào, vận động bà con phát triển sản xuất, ổn định đời sống, sống đoàn kết hòa thuận, cùng nhau xây dựng nếp sống mới, bản thân gia đình già làng Nay Yăk còn là một điển hình của ý chí không chịu khuất phục trước khó khăn, vươn lên xóa đói, giảm nghèo. Nhà ông có sáu khẩu, chỉ có hai lao động chính, nhưng ông đã biết cách phân công hợp lý nên thu được kết quả cao. Hiện gia đình canh tác 2,5 ha lúa hai vụ, 0,4 ha bắp, hai ha mía, tám ha điều, 0,4 ha ao nuôi cá... trừ chi phí, hằng năm lãi hơn 50 triệu đồng. Số tiền trên ngoài để tích lũy, đầu tư cho sản xuất, ông còn xây hai ngôi nhà, mua xe công nông phục vụ gia đình và giúp đỡ bà con trong làng. Năm 2005, ông được bà con tín nhiệm bầu là đại biểu dự Ðại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ 7 tại Hà Nội. Vinh dự hơn, ông được bà con và chính quyền đồng ý cho phép lấy tên mình đặt tên cho thôn là thôn A Ma Nhơn.

Già làng K'Lếu: Tự hào vì làm được nhiều việc có ích cho bà con mình

Năm nay đã 63 tuổi nhưng trông già làng K'Lếu, dân tộc K'Ho vẫn rất khỏe mạnh và hồng hào. Ông là hội viên Hội NCT, hiện sống ở thôn 1, xã Tân Châu, huyện Di Linh (Lâm Ðồng). Già làng K'Lếu cho biết: Xã Tân Châu có 10 thôn, trong đó có năm thôn là đồng bào dân tộc thiểu số, với 703 hộ, 4.424 khẩu. Trước năm 1975, đời sống người dân quê tôi rất khổ, do phải sống du canh, du cư, chủ yếu phát nương làm rẫy, nhiều gia đình lâm vào cảnh thiếu đói quanh năm. Sau năm 1975 được Ðảng, Nhà nước quan tâm đầu tư, đời sống bà con đã có bước thay đổi đáng kể. Cùng với chính quyền, các đoàn thể, Hội NCT đã phát huy tinh thần gương mẫu, thường xuyên kết hợp các già làng vận động, tuyên truyền bà con định canh, định cư, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ phát nương làm rẫy mỗi năm một vụ sang trồng các loại cây công nghiệp cho giá trị kinh tế cao như cà-phê, lúa cao sản, nuôi bò giống thịt. Chỉ tính riêng trong năm 2008, xã đã xây dựng được nhiều mô hình kinh tế đem lại hiệu quả cao, được bà con đồng tình, ủng hộ. Trong đó, có hai mô hình trình diễn lúa lai cao sản, hai mô hình cải tạo vườn cà-phê, hai mô hình trồng tre lấy măng điền trúc, hai mô hình nuôi bò đực giống, ba mô hình trồng cây mít nghệ...

Hiện nay thu nhập bình quân trong xã đạt 13,5 triệu đồng/người/năm, hộ nghèo còn 5,91%; 100% số người dân đã có nhà xây kiên cố, nhiều gia đình sắm xe công nông, có phương tiện nghe nhìn, có xe máy đi lại. Là già làng, tôi còn dành nhiều thời gian vận động nhân dân đoàn kết giúp đỡ nhau trong sản xuất, thực hiện nếp sống mới văn minh, vệ sinh buôn làng, xóa bỏ các tập tục lạc hậu. Năm 2008, tôi đã tham gia hòa giải tám vụ mâu thuẫn, trong đó có hai vụ hôn nhân, ba vụ tranh chấp đất đai, hai vụ gây rối trật tự công cộng và một vụ mâu thuẫn gia đình. Bản thân tôi cũng cùng với Hội NCT vận động nhân dân đóng góp hàng trăm triệu đồng vào Quỹ khuyến học, trợ giúp kịp thời cho con em các gia đình khó khăn, tạo điều kiện cho các cháu được đến trường. Hiện toàn xã có hàng chục con em tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học đã ra trường và tình nguyện về công tác tại xã, được bố trí vào các vị trí chủ chốt. Ðây là niềm tự hào của bà con các dân tộc trong xã chúng tôi.

Với những thành tích đã đạt được, xã Tân Châu vinh dự được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu: Huân chương Chiến công hạng ba về phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Hiện xã được tỉnh chọn làm điểm về mô hình xây dựng nông thôn mới... Có thể nói, trong thành tích chung ấy, có phần đóng góp của Hội NCT và cá nhân Già làng K'Lếu.

Có thể bạn quan tâm