Giữa sóng nước sông Đà

Giữa mênh mông, Đà giang không chỉ mang vẻ đẹp hùng vĩ mà thơ mộng, núi sông hòa quyện vào nhau hấp dẫn khách lữ hành, mà còn ẩn chứa những cơn thịnh nộ dữ dằn của tự nhiên. Bão lũ bất chợt, mặt nước hiền hòa bỗng chốc trở nên hung dữ, từng đợt sóng có thể nhấn chìm những hy vọng và tài sản tích góp cả đời người.

Những chiếc tàu buôn ngược dòng sông Đà phải đủ điều kiện đăng kiểm, bảo đảm an toàn trên hành trình suốt 10 phiên chợ, qua 7 ngày đêm. (Ảnh BẢO LONG)
Những chiếc tàu buôn ngược dòng sông Đà phải đủ điều kiện đăng kiểm, bảo đảm an toàn trên hành trình suốt 10 phiên chợ, qua 7 ngày đêm. (Ảnh BẢO LONG)

Thế nhưng, trên hành trình gắn bó với dòng sông hùng vĩ nhưng cũng đầy trắc trở ấy, nhịp sống của những người dân đang lặng lẽ mưu sinh trên những chiếc bè, thuyền buôn... lại là những câu chuyện lấp lánh về sự gắn kết, nghị lực và khát vọng.

Họ coi mặt nước là nhà, coi gian nan là người bạn đồng hành, kiên cường giữa trời nước bao la của vùng Tây Bắc Tổ quốc.

Trông trời, trông nước

Trên chuyến tàu hàng ngược dòng sông Đà, chị Bình - một phụ nữ trung niên gốc Hà Nội, khuôn mặt rám nắng, làn da chai sạn, đứng chênh vênh ở mũi tàu sắp xếp hàng hóa, chuẩn bị cho chuyến đi tới. Đã 30 năm nay, cuộc đời chị là hành trình trên những nhịp sóng.

Trước đây, chị Bình chỉ dám thuê một gian nhỏ để theo tàu buôn bán. Cách đây bảy năm, bằng tất cả vốn liếng dồn góp và vay mượn, chị sắm chiếc tàu trị giá gần một tỷ đồng để thật sự làm chủ. Giờ đây, hai mẹ con chị cùng bốn nhân công vẫn đều đặn thực hiện hành trình tới 10 bến chợ để bán nhu yếu phẩm, tạp hóa và vật liệu xây dựng... cho người dân vùng sâu, tạo nên những phiên chợ trên sông náo nhiệt.

Tại bến thuyền, nghe tiếng máy nổ giòn tan, anh Tân Hoàng, một “tay” bán buôn mì ăn liền, người gốc Phú Thọ, tất bật leo lên tàu, chào hàng với chị Bình. Chỉ cần mỗi chuyến tàu đủ hành trình, bán được 3-4 triệu đồng tiền hàng, anh coi là “đủ KPI” rồi. Suốt 15 năm qua, anh Hoàng trở thành gương mặt thân quen trên khắp các tàu buôn sông Đà. Dù có khách hàng ổn định trên bờ, anh chẳng thể bỏ quên những “bạn hàng” lênh đênh, bởi đó vừa là chuyện làm ăn, vừa là cái tình của những người cùng cảnh mưu sinh trên sông.

Gắn bó với dòng sông hùng vĩ này không chỉ có những chuyến tàu hàng, mà còn có cả những “đế chế” cá lồng được gây dựng từ mồ hôi và nước mắt. Gia đình chị Nguyễn Thị Dung (sinh năm 1988), Giám đốc điều hành Công ty Thủy sản Hải Đăng, quê gốc Phú Thọ. Hàng chục năm về trước, bố mẹ chị ngược dòng lên vùng lòng hồ Hòa Bình (cũ) để làm kinh tế mới. Những năm ấy, cá tự nhiên còn nhiều, ông bà chủ yếu đi đánh bắt và thu mua lại của dân chài.

Chị Dung nhớ lại thời mình còn rất bé đã thấy bố mẹ bắt đầu tập nuôi cá bằng những chiếc bè tre thô sơ. Các lán tre được buộc chặt vào nhau bằng dây mây, dây kẽm, lênh đênh theo con nước. Nghề nuôi cá khi đó hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm “trông trời, trông nước”, chưa hề có bóng dáng của kỹ thuật hiện đại hay máy móc.

1-sd-1-9963.jpg
Chăm sóc cá lồng giữa sông Đà. (Ảnh BẢO LONG)

Đến năm 2010, một bước ngoặt lớn đến với nghề nuôi cá lồng của gia đình chị Dung khi quyết định chuyển từ bè tre sang lồng sắt kiên cố. Từ tám chiếc lồng ban đầu, quy mô cứ thế nhân lên theo năm tháng. Mỗi chiếc lồng sắt có chi phí đầu tư 60-70 triệu đồng. Năm 2017, gia đình chị Dung quyết định di chuyển về khu vực hiện tại, lúc này vẫn còn là một vùng lòng hồ hoang sơ, chưa có bóng người. “Ngày đó ở đây chưa có bè nổi nào, mỗi bố mẹ tôi ra khai phá. Nuôi cá lồng ở đây sẽ phát triển quy mô lớn được bởi gần cảng, lại dựa núi, tránh sóng dữ”, chị Dung kể.

Hiện nay, cơ sở nuôi cá lồng Hải Đăng có tới 200 lồng cá. Đơn vị thuê tám lao động, phần lớn là những người đã coi bè cá này như ngôi nhà thứ hai. Anh Nguyễn Văn Vinh gắn bó với gia đình chị Dung từ năm 2010. Cuộc sống của anh Vinh diễn ra trọn vẹn hằng ngày trên những ngôi nhà nổi được ghép từ sắt và phao. Gió thổi lồng cá lắc lư đến đâu thì bè nổi đung đưa đến đó. Thế mà trên mặt hồ chông chênh, người ta vẫn bài trí đủ từ bể nước ngọt, những chậu cây xanh đến vật dụng sinh hoạt giản dị, tạo nên một “làng nổi” thu nhỏ giữa lòng hồ. Sáng sớm, khi sương mù chưa tan trên mặt sóng, ngư dân đã cho cá ăn, kiểm tra từng mắt lưới và theo dõi sự thay đổi của nguồn nước. Mối quan hệ giữa chủ và thợ ở đây là sự gắn bó, sẻ chia suốt hàng chục năm qua, để rồi chung tay vượt qua khắc nghiệt của thiên nhiên.

Những thế hệ tiếp nối

Dòng sông nuôi sống con người nhưng cũng chưa bao giờ thôi thử thách họ. Chị Bình thở dài kể, hồi mới sắm tàu, tiểu thương còn thuê tàu chị để vận chuyển hàng hóa. Người bán quần áo, giày dép; có người còn bán cả lợn, gà... Nhưng những năm gần đây, khách thuê thưa dần. Giờ chỉ còn hai mẹ con tự xoay xở ngược xuôi trên chiếc tàu lớn. Có những lúc khó khăn bủa vây, chị đã nghĩ đến việc lên bờ, chọn một góc đâu đó để bán hàng cho an phận, thoát khỏi nỗi lo hiểm nguy rình rập. Thế nhưng, mải miết với con tàu đã gắn bó bao năm, nuôi sống cả gia đình, chị lại chẳng nỡ rời xa. Nhất là khi người dân vùng sâu, vùng xa vẫn luôn chờ đón những chuyến hàng cập bến...

Nỗi gian truân ấy cũng thấy rõ trong câu chuyện của chị Dung tại vùng lòng hồ Thung Nai (tỉnh Phú Thọ). Nuôi cá trên sông thì “cá ra ngoài là mất, không thể kiểm soát”. Làm sao quên được những trận bão lớn làm cong gãy lồng sắt, cá thất thoát theo dòng nước không cách nào đong đếm thiệt hại. Chưa kể, những lứa cá tầm giống đắt đỏ, giá lên tới 500.000-600.000 đồng/kg nhưng khi chưa thích nghi, “nuôi 10 con chỉ còn lại 1-2 con”. Chị tìm đến nhiều hãng bảo hiểm lớn để mua sự bảo đảm cho hơn 200 lồng cá của mình, thì chẳng đơn vị nào dám gật đầu trước sự rủi ro quá lớn...

Rõ là không gì thay đổi được sự khắc nghiệt của sông Đà hùng vĩ và chỉ có nỗ lực của con người mới có thể khỏa lấp gian nan, viết tiếp những thành công mới. Khoảng 15 năm trước, gia đình chị Dung tự nghiên cứu cách nuôi cá tầm ở sông Đà. Cá tầm là loài ưa nước lạnh, không chịu được cái nóng của mùa hè, bố chị phải đầu tư hệ thống thiết bị hút nước từ tầng sâu dưới lòng hồ - nơi nguồn nước luôn giữ được độ lạnh tự nhiên - rồi kết hợp với hệ thống làm lạnh để nuôi cá trong bể. Phải mất nhiều năm thử nghiệm (từ năm 2012 đến 2015), nếm trải không ít thất bại và thiệt hại kinh tế, gia đình chị mới dần làm chủ quy trình nuôi loài cá đắt đỏ này, cho hiệu quả kinh tế cao.

Không dừng ở tìm tòi kỹ thuật nuôi, người trẻ thuộc thế hệ sau của cư dân lòng hồ còn tìm cách thích nghi với thị trường mới. Đều đặn từ 21 giờ đến 23 giờ đêm, khi cả gia đình đã say giấc, chị Dung lại miệt mài ngồi trước màn hình để tham gia khóa học về truyền thông mạng xã hội. Chị hiểu rằng không thể để cá lồng sông Đà mãi “như công chúa ngủ trong rừng”, chỉ đợi khách quen tự tìm đến. Nhờ những video quảng bá tự thực hiện trên Fanpage, thương hiệu cá Hải Đăng được nhiều khách lẻ khắp cả nước tìm đến, bay xa đến tận Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức... qua đường hàng không. Tỷ lệ bán lẻ trực tuyến của công ty tăng ngoạn mục từ 10% lên 35% chỉ trong 1 năm, mở ra hướng đi đầy triển vọng.

Ước vọng làm chủ Đà giang hùng vĩ, dù với người già dạn dày sương gió hay người trẻ khao khát đổi mới, dường như chẳng bao giờ kết thúc, cứ thế truyền từ đời này qua đời khác. Hai con nhỏ của chị Dung, dù lớn lên trong đô thị, nhưng hễ có dịp lại theo mẹ, theo ông về với lòng hồ. Nhìn chúng ngụp lặn, bơi lội giữa sóng nước, người ta hiểu rằng sợi dây gắn kết với dòng sông này sẽ còn mãi, bởi đây chính là ngôi nhà, là cội nguồn nuôi dưỡng những thế hệ tiếp nối trưởng thành.

Có thể bạn quan tâm