Nhớ những mùa thu ấy

Một số giáo viên trong tổng số 860 người
lên Việt Bắc, Tây Bắc năm 1959.
Một số giáo viên trong tổng số 860 người lên Việt Bắc, Tây Bắc năm 1959.

Báo Nhân Dân ra ngày 27-9-1959 trong bài xã luận Hoan hô 860 giáo viên sắp lên đường phục vụ miền núi, có đoạn: "Lớp cán bộ giáo dục miền xuôi đầu tiên xung phong lên công tác ở miền núi lần này hầu hết đều là anh chị em giáo viên quốc lập và dân lập cấp I và một số giáo viên cấp II và cấp III, ở hầu hết các tỉnh đồng bằng và trung du. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ðảng và thấm nhuần chính sách dân tộc của Ðảng và Chính phủ, các đồng chí đã tự nguyện và quyết tâm góp phần đưa ánh sáng văn hóa tới các vùng miền núi, tới tận những vùng rẻo cao xa xôi nhất. Ðó là một thắng lợi của tinh thần yêu nước và tư tưởng xã hội chủ nghĩa, một thắng lợi của chính sách dân tộc của Ðảng và Chính phủ". Ðã 49 năm trôi qua nhưng kỷ niệm về Tây Bắc vẫn là một phần thiêng liêng trong đời sống tâm hồn của những người giáo viên tình nguyện năm nào.

Trước khi lên đường, các giáo viên tình nguyện được Bác Hồ đến thăm và căn dặn: Công tác ở miền núi có nhiều khó khăn. các cô, các chú xung phong gánh lấy những khó khăn để làm công tác giáo dục ở miền núi, thế là tốt, là vẻ vang. Nhưng các cô chú cần xung phong đến nơi đến chốn. Cần có tinh thần bền bỉ, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ.

Vậy là đã gần năm mươi năm kể từ mùa thu ấy, khi những thanh niên trí thức miền xuôi đang ở lứa tuổi thanh xuân phơi phới đã chia tay gia đình, bạn bè lên đường tình nguyện phục vụ miền núi. Hết thế hệ này tới thế hệ khác, những người giáo viên ấy đã bám bản, bám dân, vừa nỗ lực đưa chữ đến cho hàng vạn đồng bào dân tộc thiểu số, vừa là người cán bộ quần chúng giúp đồng bào giác ngộ chính trị. Họ đã mang "Ngọn cờ đỏ của Ðảng để cắm lên những ngọn núi cao nhất" (Lời của nhà thơ Tố Hữu), làm trọn nhiệm vụ vẻ vang của người thanh niên và người giáo viên yêu nước. Họ đã tạo nên sức bật mới cho giáo dục miền núi trong suốt những năm tháng ấy cho đến tận sau này.

Chúng tôi có may mắn được gặp gỡ với những giáo viên đã từng lấy miền núi làm quê hương thứ hai, coi đồng bào các dân tộc thiểu số như anh em ruột thịt nơi núi rừng thuộc Khu tự trị Thái - Mèo (sau này đổi thành Khu tự trị Tây Bắc gồm Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ (Yên Bái)). Họ đều đã vào tuổi xưa nay hiếm song những tháng ngày gian khó mà vinh quang khi đem cái chữ đến cho đồng bào dân tộc vẫn luôn là những kỷ niệm không thể phai mờ.

Nhà giáo Trần Hữu Dụng đọc cho chúng tôi nghe những câu thơ ông và đồng đội đã chép trong sổ tay những ngày đầu lên Tây Bắc: "Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc. Khi lòng ta đã hóa những con tàu. Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát. Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu". (Tiếng hát con tàu - thơ Chế Lan Viên).

Là một thanh niên trí thức đã được học tại Trường đại học Nhân dân, ông từng tham gia Ðội thanh niên xung phong Trung ương 56 do đồng chí Vũ Kỳ làm trưởng đoàn đi xây dựng Nhà máy chè Phú Thọ. Tháng 9-1958, ông cùng hai người bạn thân là ông Vũ Thế Lộc và Lê An nhận quyết định lên công tác tại Khu tự trị Thái - Mèo.

Chỉ còn ba ngày nữa là Trung thu nhưng ba người vẫn quyết tâm lên đường ngay lập tức, hành trang chỉ có vài bộ quần áo, chồng sách giảng dạy và cặp bánh nướng mẹ gói dưới đáy ba-lô. Ba người bắt xe từ bến Kim Mã lên đến Hòa Bình thì trời đã nhá nhem tối và phải mất bốn ngày sau cả ba người mới lên được Mộc Châu, Sơn La (khi đó là thủ phủ của Khu tự trị Thái - Mèo).

Vào thời điểm đó, toàn khu Thái Mèo có ba trường cấp II nên ba người được phân công nhận nhiệm vụ ở ba điểm khác nhau, chia tay chỉ nói được một câu: "Gắng khắc phục khó khăn, gian khổ mà vươn lên nhé...".

Nhà giáo Trần Hữu Dụng khi ấy vừa tròn 20 tuổi trở thành Hiệu trưởng đầu tiên của Trường cấp II Nghĩa Lộ (nay thuộc tỉnh Yên Bái). Từ đó, ông trở thành người con của các "ếm, ải" và là người thầy của các "noọng" bé thơ.

Một buổi họp đoàn công tác.

Những ngày đầu, thầy trò vừa học, vừa lao động để xây dựng lớp học, nơi ở. Thầy dạy trò chữ quốc ngữ, trò dạy lại thầy tiếng Thái, tiếng Mèo (Mông). Chỉ qua một mùa nương, các lớp học đã dần ổn định, tiếng mõ ngày ngày lại vang lên báo giờ lên lớp. Có cậu học trò người Thái nay đã lên chức ông nội vẫn còn nhớ hình ảnh thầy Dụng giữa đêm mùa đông cầm đèn soi kiểm tra giường ngủ của từng em xem đã đắp chăn kín chưa rồi mới về phòng ngủ.

Cứ như vậy thầy Dụng đã gắn bó với Tây Bắc 12 năm ròng. Thầy Dụng đã đặt chân lên hầu khắp 18 châu thuộc Khu tự trị Thái - Mèo ngày ấy. Mười hai năm gắn bó với Tây Bắc là ngần ấy năm ông ăn Tết nơi quê hương thứ hai cùng học sinh và đồng bào Tây Bắc.

Qua câu chuyện của thầy Dụng, chúng tôi biết đến nhiều tấm gương của các giáo viên miền xuôi đã cống hiến sức trẻ của mình trên vùng cao Tây Bắc như các thầy Hà Án, Phan Tất Ân, Ðinh Văn Tư, Nguyễn Văn Bôn, Lê Xuân Kế, Nguyễn Văn Nhạn..., các cô giáo Lương Thị Tuyết, Lương Thị Kiểm, Vũ Thị Hỷ, Phan Thị Lý,... Trong số họ có người đã được phong anh hùng, có người là chiến sĩ thi đua toàn quốc, có người được tặng Huân chương Lao động... Các em học sinh ở vùng cao Lai Châu bấy giờ chắc hẳn sẽ không quên hình ảnh cô giáo Lương Thị Tuyết ngoài lúc lên lớp lại ôm súng tham gia đội dân quân chống phỉ bảo vệ bản làng. Những học sinh ở Thuận Châu chắc vẫn luôn nhắc về thầy Hà Án cùng anh em tự vệ xông lên bắn máy bay Mỹ trên bầu trời Tây Bắc.

Hồi ấy, có một sự kiện khiến Bác Hồ rất lưu tâm là việc ra đời của Trường cấp II huyện lỵ Mường La, hay còn gọi là "Trường ba đảm đang" của tỉnh Sơn La năm 1965. Sáu cô gái trẻ gồm Chu Hồng Ðiệp (Bắc Ninh), Nguyễn Minh Tân (Hà Nội), Ngô Thị Chiêm (Thanh Hóa), Phạm Xuân Dung (Hải Hưng), Trần Thị Hường (Nam Ðịnh), Trần Thị Hạnh Nga (Hà Nội) đã kiên gan bám trường, bám lớp, giữ vững trận địa học tập cho con em đồng bào trên đỉnh Pom-pa-đin lộng gió.

Mùa đông, lớp học ở trên cao hứng trọn giá rét qua từng cơn gió mùa Ðông Bắc. Mùa hè, gió tây nam thổi cháy cỏ cây, ve rừng kêu miên man không nghỉ. Bữa cơm của các cô nhiều khi chỉ có bột mì luộc ăn với đu đủ xanh nấu canh hoặc ngọn sắn luộc chấm muối. Do tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh chống phá hoại lúc bấy giờ, trường "ba đảm đang" liên tục phải sơ tán để bảo đảm an toàn cho việc dạy và học.

Những cô giáo miền xuôi đã không ngại khó, không sợ khổ mang vác tranh tre vượt đèo cao để tìm nơi dựng trường mới. Trong lúc pháo sáng rực trời và tiếng bom ầm ầm nổ ngoài thị xã, lớp học của con em đồng bào Mường La trên đỉnh Pom-pa-đin vẫn vang tiếng trẻ đọc bài.

Cùng chuyến lên Tây Bắc của 860 giáo viên năm ấy có thầy giáo Lê Xuân Kế, quê tại Lê Chân, Hải Phòng và thầy Hoàng Ðạo Chúc, quê tại Ðại Kim, Thanh Trì, Hà Nội. Thầy Kế kể cho chúng tôi nghe về những ấn tượng của ông trong lần gặp Bác Hồ tại Trường Bổ túc Công Nông trước khi đoàn lên đường đi Tây Bắc.

Tại Khu học xá Mường La, thầy Kế cùng với các đồng nghiệp là những giáo viên yêu văn thơ đã sáng tác và thu thập bài vở của các đồng nghiệp để in tập Hoa ban đầu mùa. Câu chuyện Ngày trở về ông viết trong thời kỳ đó đã có ảnh hưởng rất lớn đến các em học sinh người dân tộc, giúp các em hiểu được lợi ích, tầm quan trọng của việc học hành để sau này làm chủ quê hương. Cũng tại vùng đất này, ông đã có một tình yêu thật đẹp với cô giáo Lưu Thị Ngọc Dung người Hà Tây. Người con gái đầu lòng của họ đã được nuôi lớn bằng dòng sữa của những bà mẹ người dân tộc.

Tạm biệt cha mẹ, người vợ trẻ và đứa con mới vài tháng tuổi, thầy giáo Hoàng Ðạo Chúc lên Tây Bắc và về dạy học tại Phân hiệu II Chiềng Pấc, thuộc Khu học xá Mường La... Sau này, khi đã trở về xuôi và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng tại Bộ Nội vụ, Văn phòng Nội chính..., trong anh vẫn không lúc nào nguôi nỗi nhớ trường, nhớ đồng nghiệp và học trò nơi núi rừng Tây Bắc. Ông nhớ nhà giáo Doãn Thanh đã dành trọn đời mình để nghiên cứu, cải tiến chữ của đồng bào dân tộc Mông; nhớ nhà giáo Mai Trọng Tiệp hài hước ngay cả khi gian khó; nhớ thầy Nguyễn Tiến gần gũi, chia sẻ ngọt bùi cùng đồng nghiệp; nhớ thầy Nha, lặn lội một mình dạy chữ trên đỉnh cao heo hút Pú Nhung mà không khi nào kêu khổ...

Qua câu chuyện của họ, tôi đã được biết đến những tấm gương bình dị mà cao quý của người giáo viên miền xuôi tình nguyện lên Tây Bắc những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20.

Có thể bạn quan tâm