Nhưng đến nay, các công trình này đều "chết yểu" vì chủ đầu tư "bỏ của chạy lấy người", để lại công trình ngổn ngang, ảnh hưởng đến hệ thống giao thông, cảnh quan, môi trường và cuộc sống của bà con nơi đây.
Vào những ngày đầu tháng 4, đến thôn Bản Khính, Khánh Khê (Văn Quan), nhìn cánh đồng khô cạn, mọc đầy cỏ dại. Khi được hỏi vì sao để ruộng hoang mà không trồng ngô, cấy lúa, chị Hoàng Thị Hiến, nhà ngay đầu Bản Khính ngậm ngùi, xót xa: Từ năm ngoái CTTÐ bỏ dở, công nhân bỏ đi, thì cả cánh đồng này cũng bỏ hoang luôn, vì hệ thống kênh mương dẫn nước, trạm bơm nước đã bị phá bỏ để nhường chỗ cho CTTÐ... Những năm trước khi chưa có CTTÐ, cả cánh đồng này lúa, ngô xuân tốt xanh bời bời. Nay không có nước để cấy lúa, ruộng bỏ hoang, không việc làm, đám thanh niên bỏ làng sang biên giới làm thuê, hiện chỉ còn phụ nữ, người già ở nhà, mùa tới sẽ không biết lấy gì ăn... Ðến UBND xã Khánh Khê, chưa ngồi ấm chỗ, Bí thư Ðảng ủy Chủ tịch UBND xã Vi Văn Chẩn bức xúc nói: Ngày khởi công CTTÐ Khánh Khê, chủ đầu tư hứa với người dân khi có thủy điện một số hộ dân mất đất sẽ được tuyển làm công nhân, hệ thống kênh mương sẽ lấy từ thân đập ra công suất cao hơn kênh mương cũ... Ðến giờ chủ đầu tư rút đi không kèn, không trống, để lại công trình ngổn ngang, dang dở,... gây tác động xấu đến môi trường. Trong khi vị trí này trước kia là cả hệ thống kênh mương dài hơn một km, hai trạm bơm thủy luân được tỉnh đầu tư phục vụ tưới tiêu hơn 30 ha ruộng hai vụ lúa, cho các thôn Bản Khính, Cốc Ca, Khuổi Dường, Nà Khau... chiếm hơn 50% số hộ dân trong xã được hưởng lợi từ kênh mương này. Giờ chủ đầu tư bỏ đi, cả hệ thống kênh mương cũng tan hoang mà địa phương chưa biết khắc phục thế nào để ổn định cuộc sống cho hàng trăm hộ dân, đang sống trong thấp thỏm lo âu, vì dòng chảy của sông Kỳ Cùng đã bị ảnh hưởng...
Ðược biết, CTTÐ Khánh Khê được tỉnh cấp giấy phép đầu tư từ năm 2007, nhưng đã qua ba lần chuyển nhượng cho các chủ đầu tư. Ðến năm 2011, thủy điện Khánh Khê mới chính thức được Công ty cổ phần thủy điện Thác Xăng làm chủ đầu tư, tiến hành khởi công xây dựng. Công trình có tổng vốn đầu tư hơn 180 tỷ đồng, công suất dự án là 7 MW, với hai tổ máy, dự kiến hoàn thành hòa điện lưới vào quý IV năm 2012. Nhưng sau gần một năm thi công thủy điện Khánh Khê chỉ hoàn thành được vài hạng mục như: đào xong 40 nghìn m3 đất khu nhà điều hành, nhà ở công nhân; đổ bê-tông đắp đê quai, tường hướng dòng thượng hạ lưu, với khối lượng 1.600 m3... thì dừng hẳn. Ðến bây giờ, cả công trình chỉ còn trơ lại đống bê-tông chắn giữa dòng sông và cỏ dại mọc um tùm ở nền nhà lán trọ công nhân, chủ đầu tư thì bỏ về Hà Nội.
Không chỉ có thủy điện Khánh Khê được triển khai nửa vời như vậy, mà trên địa bàn tỉnh còn có bốn dự án thủy điện khác cũng rơi vào tình trạng này, đó là công trình thủy điện Bản Nhùng, trên địa bàn xã Trấn Ninh, (Văn Quan), với tổng mức đầu tư hơn 350 tỷ đồng, có công suất 11 MW, với hai tổ máy. Dự án thủy điện Bắc Khê I, với tổng mức đầu tư hơn 35 tỷ đồng, có tổng công suất 1,6 MW... và ngoài ra còn có các dự án thủy điện Vằng Puộc (Bắc Giang I) và Thác Xăng (Bắc Giang II)... Ðánh giá, nhận xét về các CTTÐ này, Trưởng phòng Quản lý điện năng (Sở Công thương tỉnh Lạng Sơn) Lương Ðình Niệm cho biết: Hầu hết năm CTTÐ này đều đã khởi công xây dựng, thi công đạt từ 30 đến 40% hạng mục thì dừng lại từ cuối năm 2012, vì thiếu vốn. Qua kiểm tra mới thấy thực tế nguồn vốn đầu tư xây dựng các dự án thủy lợi này, các nhà đầu tư dựa khoảng từ 60 đến 70% vào vốn vay ngân hàng. Khi ngân hàng siết chặt đồng tiền cho vay, thì dự án thủy điện cũng "chết tức tưởi". Ðây là bài học cho các chủ đầu tư chỉ muốn thực hiện phương châm đầu tư: "Tay không bắt giặc". Không chỉ gặp khó về vốn, các chủ đầu tư đã không tính hết các chi phí phát sinh trong giải phóng mặt bằng, xây trạm biến áp, ảnh hưởng đến môi trường, cuộc sống của người dân dọc các con sông khi nước dâng cao... thi công đến đâu mới tính đền bù đến đó nên giá thành chênh lệch ngày càng cao. Cụ thể như ở CTTÐ Bắc Khê I, do không khảo sát kỹ, mực nước dâng, nên khi chủ đầu tư ngăn sông, thì mực nước dâng cao làm 124 hộ dân bị ảnh hưởng, trong đó có quá nửa số hộ không được đền bù đã gây bức xúc trong dân, buộc công trình phải dừng... Dự án thủy điện Bản Nhùng cũng vậy, với tổng mức đầu tư hơn 350 tỷ đồng, gồm hai tổ máy, có công suất 11 MW, thi công từ năm 2008 đến năm 2010 thì dừng hẳn, giá trị khối lượng thực hiện đạt 42/350 tỷ đồng, bằng 12% tổng mức đầu tư. Công trình này ảnh hưởng đến hàng trăm hộ dân ở khu vực bốn xã của hai huyện Văn Quan và Văn Lãng, với diện tích thu hồi hơn 110 ha. Nay công trình bỏ hoang, các hộ dân không có đất sản xuất, không việc làm, cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn. Không chỉ vậy, hệ thống đường giao thông liên xã, liên huyện bị phá hỏng, do xe chở vật liệu thi công quá tải, làm cho người dân đi lại thêm khó khăn bội phần...
Trước thực trạng trên, Giám đốc Sở Công thương Vũ Hồng Thủy khẳng định: Sở đang tập hợp đánh giá đúng thực trạng năng lực của các chủ đầu tư để có giải pháp tháo gỡ khó khăn kịp thời. Thực tế cho thấy, do năng lực các nhà đầu tư quá kém (cả về vốn và năng lực quản lý) nên đã dẫn đến tình trạng này. Sau khi triển khai mới bộc lộ nhiều yếu kém trong quản lý điều hành của các nhà đầu tư chỉ làm theo phong trào, nên gây hậu quả khôn lường. Mặt khác, nếu chủ đầu tư dừng thi công thì phải có biện pháp khôi phục hiện trạng để người dân có đất sản xuất, Trong thời gian tới, tỉnh chỉ đạo các địa phương nơi có những công trình nêu trên sớm ổn định cuộc sống cho người dân, đồng thời xem xét lại hiệu quả kinh tế của thủy điện vừa và nhỏ, không nên chỉ vì lợi ích kinh tế mà làm ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan, đến cuộc sống của người dân nơi có công trình.