Nhân tố quyết định sự thành công của Cách mạng Tháng Tám

Những ngày Tháng Tám sục sôi
ở Hà Nội.
Những ngày Tháng Tám sục sôi ở Hà Nội.

Sự lãnh đạo của Ðảng trong Cách mạng Tháng Tám là quá trình tiếp tục tổng kết thực tiễn, phát triển tư duy của Ðảng để khẳng định, bổ sung chiến lược, sách lược cách mạng qua các thời kỳ: Cao trào cách mạng 1930 - 1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh; cuộc đấu tranh khôi phục phong trào 1932 - 1935; cao trào cách mạng 1936 - 1939; các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ. Sự lãnh đạo của Ðảng trong Cách mạng Tháng Tám là quá trình tư duy khoa học, sáng tạo, cực kỳ nhạy bén, đầy bản lĩnh chính trị, ý chí cách mạng của Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là quá trình Ðảng ta luôn xuất phát từ thực tiễn; đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, quán triệt quan điểm Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường - chiến lược cách mạng vô sản, vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; vận dụng bài học kinh nghiệm của các giai đoạn cách mạng trước đó để nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng cách mạng, nắm bắt tình hình trong nước và thế giới trong từng thời điểm lịch sử cụ thể, dự đoán tình hình, nắm bắt thời cơ, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp cách mạng đúng đắn.

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, các Hội nghị T.Ư 6 (11-1939), T.Ư 7 (11-1940), T.Ư 8 (5-1941) đã dự báo ngày càng cụ thể triển vọng thắng lợi của cách mạng: "Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công".

Ngày 28-1-1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, đã chọn Pác Bó là nơi dừng chân và làm căn cứ chỉ đạo cách mạng.

Thời cơ lớn đã đến, nhưng việc quyết định là Ðảng phải hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn và sáng tạo. Tháng 5-1941, tại Pác Bó (Hà Quảng - Cao Bằng), Chủ tịch

Hồ Chí Minh và đồng chí Trường Chinh đã chủ trì Hội nghị T.Ư lần thứ 8. Hội nghị phân tích tình hình thế giới và trong nước đã có thay đổi lớn, tinh thần cách mạng của nhân dân cũng như thái độ của các giai cấp đã có sự thay đổi. Cách mạng Việt Nam hiện không còn là cách mạng tư sản dân quyền nhằm đánh đổ hai kẻ thù là đế quốc và phong kiến nữa mà nay là cách mạng giải phóng dân tộc; tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa, đặt Tổ quốc lên trên hết, đoàn kết toàn dân đánh đổ đế quốc và tay sai, giành lại độc lập cho dân tộc. Nghị quyết khẳng định: Nếu dân tộc không được độc lập thì vạn năm nữa giai cấp cũng phải chịu sống kiếp ngựa trâu. Hội nghị T.Ư cũng đã quyết định nhanh chóng tổ chức lực lượng, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, từ khởi nghĩa từng phần đi đến Tổng khởi nghĩa; lập ra Mặt trận Việt Minh để tập hợp tất cả các giai cấp, tầng lớp và cá nhân yêu nước, tập trung đánh đổ đế quốc và tay sai.

Cùng với Hội nghị T.Ư 8, ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức thành lập, sau đó công bố 10 chính sách vừa ích nước, vừa lợi dân. Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh ngày 25-10-1941 nêu rõ: "Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn... Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật - Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập. Ðáp lại lời thiết tha kêu gọi của Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên. Người có tiền góp tiền, kẻ có sức góp sức, người có tài trí giúp tài trí. Ai nấy đều góp phần vào công cuộc cứu nước. Việc giải phóng của ta phải do ta làm lấy... Nước Việt Nam không thể mất, giống Việt Nam không thể chết! Chúng ta hãy nhìn lại quá khứ vẻ vang của Tổ quốc mà tin ở tiền đồ rực rỡ của giống nòi". Như vậy, Mặt trận Việt Minh đã quán triệt, cụ thể hóa sâu sắc đường lối giải phóng dân tộc của Ðảng.

Tình hình tiếp tục thay đổi, ngày 9-3-1945, Nhật  hất cẳng Pháp. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Ðây là một chỉ thị cực kỳ quan trọng, chỉ rõ những điều kiện, thời cơ cụ thể đứng lên khởi nghĩa. Chỉ thị mau chóng phổ biến rộng khắp từ căn cứ địa Việt Bắc cho đến các cơ sở cách mạng ở Nam Bộ.

Khi phát-xít Ðức thất bại 5-9-1945, cao trào kháng Nhật lên cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy thời cơ cụ thể tới gần, thúc đẩy triệu tập Quốc dân đại hội. Người khẳng định: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng phải  cương quyết giành cho được độc lập!".

Ngày 13-8-1945, có tin Nhật đầu hàng. Lúc bấy giờ Hội nghị cán bộ Trung ương Ðảng toàn quốc đang họp tại Tân Trào (Tuyên Quang), phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát-xít Nhật. Ngay đêm 13-8-1945 Ủy ban khởi nghĩa ra "Quân lệnh số 1", hạ lệnh Tổng khởi nghĩa.

Ngày 16-8-1945, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào. Ðại hội nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Ðảng và 10 chính sách của Việt Minh, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; quy định Quốc kỳ, Quốc ca. Ðại hội Quốc dân thể hiện sự đoàn kết nhất trí của toàn thể dân tộc trong giờ phút quyết định vận mệnh của đất nước, lòng tin tuyệt đối của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do sự  lãnh đạo của Ðảng, nhất là Chỉ thị "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" đã biến được thành nhận thức, tình cảm, niềm tin và ý chí cách mạng của đông đảo quần chúng nhân dân mà trong vòng mười ngày cả nước đã khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Ðình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Ðộc lập tuyên bố với quốc dân đồng bào, với toàn thể thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 đã chứng minh quá trình phát triển tư duy khoa học, sáng tạo, cực kỳ nhạy bén và đầy bản lĩnh chính trị, ý chí cách mạng của Ðảng ta. Quá trình này đã rút ra bài học kinh nghiệm có giá trị lịch sử: Ðứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, quán triệt quan điểm Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh (về con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc,...), luôn bám sát tình hình thực tiễn nhằm xác định mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng, phương pháp cách mạng; phát huy vai trò của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân (huy động cao nhất nội lực dân tộc) vì nhiệm vụ tối cao giải phóng dân tộc, giành chính quyền; xây dựng Ðảng trong sạch và vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức;  nâng cao khoa học và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng Việt Nam (dự báo thời cơ, tạo thời cơ, kịp thời nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ);... Bài học kinh nghiệm về sự thành công của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị đối với sự lãnh đạo của Ðảng trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, CNH, HÐH đất nước hiện nay.

TS Nguyễn Liên Châu
(Trường Chính trị Trần Phú, Hà Tĩnh)

Có thể bạn quan tâm