Nhà nông sáng chế máy đào đất

Chúng tôi đến cơ sở sản xuất máy đào ao của anh Trần Văn Dũng vào những ngày cuối năm. Đây là thời điểm người nuôi tôm cải tạo ao hồ chuẩn bị cho vụ nuôi mới, cũng là lúc cơ sở sản xuất của anh bận rộn nhiều hơn để kịp giao hàng.

Chiếc máy điện thoại của anh Dũng cứ liên tục đổ chuông. Khách hàng điện đặt máy, hỏi giá cả, hối thúc giao hàng… làm câu chuyện của chúng tôi luôn bị ngắt quãng. Cuối cùng, anh phải giao chiếc điện thoại cho vợ và dẫn chúng tôi vào nhà kể cho chúng tôi nghe về cuộc đổi đời của mình.

 Vào những năm 1989 – 1900, phong trào nuôi tôm sú ở Duyên Hải nở rộ. Nhiều người giàu lên nhanh chóng nhờ nuôi tôm. Anh Dũng dốc hết của cải, vay thêm tiền để đào ao trên phần đất của mình ở ấp Mé Láng, xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải để nuôi tôm.

Sau 3 năm thất tôm liên tục, anh bán hết ao tôm mà vẫn còn thiếu nợ. Chủ nợ đòi, anh không có tiền trả. Anh nghĩ, mình cũng một thời là chủ hồ tôm làm ăn ì đùng, giờ đây đi làm mướn ai mà mướn và cũng rất mặc cảm nên phải đùm bọc cả nhà bỏ quê hương để về Cà Mau tìm kế sinh sống và trốn nợ.

Với chút trầm ngâm, anh kể tiếp: “Thấm thoát đã 9 năm ròng sống ở đất khách quê người cũng chỉ tạm đủ ăn qua ngày, tôi mới đưa cả gia đình trở lại quê hương, lúc đầu sống bằng nghề chở trấu bỏ mối, rồi đi đào ao mướn. Lúc bấy giờ đào ao chủ yếu bằng sức người là chính. Một số người có sáng kiến dùng máy bơm nước để chuyển đất đi, nhưng cũng phải đào đất đưa vào cho máy. Dùng cách này có giảm bớt sức lao động, nhưng năng suất không cao, tính ra tiền xăng dầu cũng gần hết. Tôi nghĩ phải chế tạo chiếc máy đào tốt hơn mới giảm được sức lao động.”

Ban ngày anh đi đào ao mướn, tối về mày mò chế tạo, làm được bao nhiêu tiền đều bỏ vào đây hết. Nhiều người nghĩ anh nghèo quá, hóa khùng rồi nên cũng không dám cho mượn tiền. Lòng người nghĩ vậy, có gì quá đáng đâu. Bởi vì mình không có vốn liếng, cũng không biết chữ, làm sao chế được máy. “Bây giờ tôi biết đọc, biết viết rồi, nhưng còn chậm lắm, hát karaokê chưa kịp”- Anh khoe.

 Gần 10 năm rồi nhưng anh vẫn còn nhớ như in chiếc máy - tác phẩm đầu tay của mình. Cái máy đầu tiên làm được 50 m3 / ngày, giá bình quân 5.000 đồng/ m3, trừ tiền dầu còn lời khoảng 200 ngàn ngày. Anh chìa bàn tay cho chúng tôi xem: “Chiếc máy này cũng lấy đi 2 lóng tay của tôi”.

Anh kể, bước ngoặc cuộc đời của anh thật sự chuyển biến từ năm 2003. Lúc này anh Dũng có 5 chiếc máy, làm 1 năm mua được 170 cây vàng. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đến thăm, cho 6 triệu đồng và động viên anh đi đăng ký bản quyền. Chủ tịch UBND tỉnh đến thăm cho 70 triệu đồng kéo đường điện 3 pha để mở cơ sở sản xuất.

Từ thành công này anh tiếp tục cải tiến để cho ra chiếc máy thứ 2. Chiếc máy này chỉ chạy 17 ngày mà thu được đến 14 triệu đồng. Nó ra đời chỉ còn hơn 1 tháng là hết mùa đào ao, nhưng  anh đã kịp  thu được 57 triệu đồng. - “Hơn 10 cây vàng lận, làm sao không ham cho được. Chính vì vậy, lúc đầu tôi chỉ nghĩ chế tạo máy để đi đào đất mướn thôi, có người hỏi cũng không bán.”

Từ chiếc máy đào đất đầu tiên, hiện nay, Công ty trách nhiện hữu hạn Liêm Thanh của anh Trần Văn Dũng còn sản xuất thêm 3 dòng máy đáp ứng các chức năng làm đất khác nhau: Máy nạo vét bến bãi ( máy bơm hút cát): máy cải tạo (sên bùn đáy) hồ tôm sau vụ nuôi; máy xi thông đáy ao nuôi ca da trơn (làm sạch đáy ao trong quá trình nuôi).

Năm năm qua, cơ sở của anh Dũng đã sản xuất cung cấp ra thị trường hơn 1.200 chiếc máy làm đất. Sản phẩm của anh Dũng đã có mặt khắp các vùng miền trong cả nước.

Tôi hỏi, sản xuất thành công 4 dòng máy này, anh còn có ý tưởng cho ra đời thêm dòng máy nào nữa không? Anh Dũng nói: “Mình 51 tuổi rồi, ngoài việc sản xuất, giao máy, mình vẫn còn nhận thi công đào ao hồ nữa nên bận rộn lắm. Tuy nhiên, thấy bà con mình thu hoạch nghêu nặng nhọc quá nên dự định làm thêm chiếc máy thu hoạch nghêu nữa thôi.

Ạnh kể, “Hồi đầu năm, hợp tác xã nghêu có gợi ý đặt hàng mình chế máy thu hoạch nghêu. Tôi cũng đã chế tạo thử và chạy thử thành công rồi. Nhưng năm nay hợp tác xã bị thất mùa nghêu, nên họ không đặt hàng nữa.”

Có thể bạn quan tâm