Nhà giáo Ưu tú Lê Bá Hán, người thầy kính mến

Vợ chồng PGS Lê Bá Hán.
Vợ chồng PGS Lê Bá Hán.

Đầu năm 2006, trên đường đi công tác xuống Đồng Tháp, tôi tranh thủ dừng chân tại TP Hồ Chí Minh thăm gia đình thầy giáo Lê Bá Hán. Năm 2000, khi rời Khoa Ngữ văn ĐH Vinh sau 41 năm gắn bó, thầy cô vào TP Hồ Chí Minh sống với cô con gái đầu tại một căn hộ ở quận Tân Bình.

Khi nghe tôi báo tin qua điện thoại, thầy còn cẩn thận hướng dẫn tôi phải đi như thế nào, theo con đường nào là gần nhất, nên đi phương tiện gì để đến. Tôi thầm cảm ơn sự chu đáo gần như là một thứ "bệnh" nghề nghiệp của một người thầy mà tôi đã được vinh hạnh là học trò, sau đó là đồng nghiệp trong hơn 20 năm.

Vẫn đôi mắt ánh lên vẻ chân tình, thân mật, vẫn với giọng nói vang và luôn ấm áp, rõ ràng, thầy hỏi thăm và trò chuyện với tôi về đồng nghiệp, bạn bè, về học trò, về tình hình ở khoa và trường, nơi thầy đã chia tay, nhưng cũng là nơi thầy luôn hướng về với biết bao quan tâm chia sẻ.

Ở nơi xa mà thầy hiểu rõ tình hình khoa và trường đến thế. Thầy biết ai bảo vệ xong luận án cấp cơ sở, ai mới được công nhận giảng viên chính, thậm chí ai mới có bài đăng tạp chí. Mà cũng dễ hiểu thôi, ĐH Vinh và khoa văn đã là "mối tình gần nửa thế kỷ" là nơi in dấu gần trọn cuộc đời thầy, nơi thầy sống với nhiều kỷ niệm, nhiều niềm vui và cả những nỗi buồn không dễ thổ lộ.

Tôi là người học trò được thầy quý mến, nhưng đã hơn một lần chứng kiến vẻ trầm tư của thầy bên chiếc bàn con ở căn hộ tập thể tầng bốn, những lúc thầy gặp trắc trở gì đó trong công tác hoặc trong quan hệ với đồng nghiệp. Để đứng vững trên mảnh đất lắm nhân tài và rất nhiều những xét nét, những ràng buộc khe khắt, để trở thành một nhà giáo, NGƯT, Ủy viên Hội đồng Học hàm chuyên ngành Văn học, trực thuộc Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước, nhiệm kỳ 1996 - 2000, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng khoa học ĐH Vinh, Chủ nhiệm chuyên ngành đào tạo sau đại học, Chủ nhiệm một chương trình nghiên cứu quan trọng của tỉnh, ông bố của một gia đình mà con cái đều là giáo sư, tiến sĩ... thầy đã phải gồng mình lên, nhiều khi đã phải chịu những hệ lụy, những hiểu lầm không đáng có.

Thế hệ của thầy, trong đó có nhiều nhà giáo đáng kính như Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Trùng Hiếu, Đậu Văn Ngọ... nay đã lần lượt trở thành người thiên cổ. Tôi không dám đưa ra lời nhận xét, nhưng tôi biết các thầy đã phải sống, phải tồn tại trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động, gian truân.

Nỗi khổ không của riêng ai. Thầy Lê Bá Hán cũng vậy. Thầy đã nhiều lần mệt mỏi, thậm chí thầy đã có lần lóe lên ý nghĩ về một sự chia tay với mảnh đất thành Vinh. Bạn bè nhiều người đã làm như thế và họ đã thành đạt trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học khi biết tìm về những trung tâm đô thị lớn. Nhưng thầy đã ở lại tiếp tục sống, dạy học, nghiên cứu khoa học và trở thành "khai quốc công thần" duy nhất bám trụ tại khoa cho đến lúc nghỉ hưu.

41 năm trời - từ khi còn là một chàng thanh niên trai trẻ, đầy nhiệt huyết nhận lệnh của Bộ trưởng Bộ Giáo dục khoác ba-lô cùng 17 cán bộ khác vào Vinh để "dựng ngọn cờ hồng trên quê hương Xô-viết" đến lúc trở thành một phó giáo sư đầu bạc... Nhiều người nói rằng họ không hiểu cái gì đã giữ thầy ở lại với mảnh đất "gió Lào, cát trắng" này lâu đến vậy?

Là người nhạy cảm, tôi biết thầy quá hiểu những cái được mất trong non nửa thế kỷ đó. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy thầy phàn nàn hay hối tiếc về quyết định của mình. Lòng say nghề, lương tâm và trách nhiệm của một nhà giáo, cái tình đối với mảnh đất mà thầy đã gắn bó gần như trọn cuộc đời, là những ràng buộc để thầy ở lại. Để cho dù những trưa hè nắng rát, gió Lào ràn rạt thổi, thầy vẫn hằng ngày đạp xe hoặc đi xe ôm tới trường dạy học, tiếp tục hằng ngày leo sáu nhịp cầu thang lên tầng bốn, vụng về chuẩn bị cho mình những bữa cơm khi cô Lộc vắng nhà và những đứa con đi xa.

Tôi được biết PGS Lê Bá Hán khi còn là một cậu học sinh lớp 10 của Trường chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An. Khi ấy thầy thường được mời sang để nói chuyện hoặc bồi dưỡng đội tuyển chuẩn bị cho các kỳ học sinh giỏi quốc gia. Đám học trò chuyên văn ngày ấy cho đến nay vẫn nhớ rất rõ cái dáng vẻ sang trọng, đầy chất trí thức của thầy khi đứng giảng bài trong bộ com-lê xanh thẫm. Giọng thầy ấm và vang, luận điểm luận cứ rất rành mạch, lên giọng xuống giọng đúng lúc, đúng chỗ. Những bài lý luận văn học phức tạp bỗng trở nên sinh động và dễ hiểu.

Sau đó, trở thành sinh viên Khoa Văn, tôi lại được học lý luận với thầy, được thầy dìu dắt trong những bước đầu chập chững làm thầy. Cái đầu tiên tôi học được ở thầy là sự chu đáo, hết lòng trong công việc. Từ một bài báo nhỏ tham gia hội nghị cấp khoa đến những công trình khoa học lớn, những chuyên đề giảng dạy cho các lớp sau đại học, thầy đều chuẩn bị cẩn thận, sửa đi, sửa lại thật chuẩn xác mới thôi. Có lẽ do sự chuẩn bị cẩn thận này mà những giờ lên lớp của thầy bao giờ cũng hấp dẫn.

Trong 41 năm giảng dạy ở ĐH Vinh, PGS Lê Bá Hán đã góp phần không nhỏ trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhiều thế hệ cán bộ. Nhiều học trò mà thầy dìu dắt đến nay đã là phó giáo sư, tiến sĩ, giảng viên chính. Các học trò chúng tôi trong những câu chuyện đùa thường nói rằng PGS Lê Bá Hán có những học trò nhìn giống thầy hơn cả... con! Chuyện đùa nhưng ngẫm có cái lý của nó.

Khi thầy nghỉ hưu, chia tay Vinh, nhiều học trò của thầy nghĩ rằng, thầy đã có dịp nghỉ ngơi... Nhưng không ngờ thầy lại tiếp tục tham gia giảng dạy và làm Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn Đại học Văn Hiến. Thầy lại tự cột mình vào nghề dạy học. Mà thầy thì tuổi đã cao, lại đang bị chứng cao huyết áp!...

Giờ đây, thầy đã đến một nơi rất xa. Thầy ra đi trong những ngày cả nước đang tưng bừng chuẩn bị cho Ngày Hội nhà giáo Việt Nam 20-11, tôi càng hiểu ra rằng: "Với thầy Lê Bá Hán, dạy học không chỉ là nghề mà đã thành một thứ nghiệp, mà đã là nghiệp thì đâu dễ dàng rời bỏ".

Có thể bạn quan tâm