Những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra khá mạnh mẽ, nhưng 75% dân số và nguồn nhân lực cho xã hội vẫn ở địa bàn nông thôn.
Thu nhập chính của gần 14 triệu hộ nông dân vẫn là các sản phẩm nông - lâm - thủy sản, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn mới chiếm từ 13,5-15%; có đến hơn 80% hộ nghèo của cả nước là ở trong các làng, bản, phum, sóc.
Dựa trên các yếu tố tự nhiên, địa lý, tiểu vùng khí hậu, phong tục tập quán...Các nhà chuyên môn coi nông thôn Việt Nam có năm vùng sinh thái, (phân chia một cách tương đối) đồng bằng, trung du, miền núi, duyên hải và ven đô. Tuy nhiên tiến hành CNH - HĐH đất nước, thực hiện hội nhập kinh tế, chúng ta đang phải đối mặt với các khó khăn, thách thức và sự chi phối của sinh thái, tài nguyên trên đất nước ta.
Khảo sát, đánh giá của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (năm 2002) thì: điều dễ thấy trước hết là tài nguyên rừng bị suy thái, cạn kiệt, phần do hậu quả của nhiều năm chiến tranh, phần do sự khai thác, chặt phá bừa bãi của con người nên không ít địa phương vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, độ che phủ của rừng có lúc chỉ còn hơn 10%.
Địa bàn miền núi, trung du và ven biển, mấy năm gần đây xảy ra tình trạng xói mòn, sạt lở do khai thác khoáng sản bừa bãi, rửa trôi, chua mặn không chỉ gây khó khăn cho sản xuất, chăn nuôi mà còn làm hư hỏng đường giao thông, công trình xây dựng. Tài nguyên nước lâu nay cũng là vấn đề bức xúc của chúng ta. Mùa mưa lũ có khi ngập lụt hai, ba tháng như vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng ngược lại có năm khô hạn kéo dài năm, bảy tháng không một hạt mưa như địa bàn miền trung và Tây Nguyên vừa qua; gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và thiếu điện đã đành, đời sống của không ít vùng dân cư thiếu nước sinh hoạt trầm trọng (phải đi mua từng can, từng xô nước giá cao).
Các loại rừng bị chặt phá do nhiều nguyên nhân: mở rộng diện tích trồng trọt, tập quán du canh du cư, khai thác gỗ, củi và các sản phẩm từ rừng, tình trạng cháy rừng về mùa khô dẫn đến hậu quả suy giảm đa dạng sinh học. Số liệu của Cục Kiểm lâm (Bộ NN và PT nông thôn) cho thấy, tại Đác Lắc, trong ba năm thực hiện Chỉ thị 287/TTg của Thủ tướng Chính phủ (2000 - 2002), lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 125 nghìn 860 vụ vận chuyển, mua bán trái phép các loại gỗ quý và động vật hoang dã (tịch thu hơn 102 nghìn 700 kg khỉ, cầy hương, trăn, rùa)... Ô nhiễm môi trường nước, không khí, nhất là ô nhiễm do chất thải rắn, lỏng lâu nay cũng là vấn đề đáng quan tâm của dư luận. Cả nước có hơn 2.000 làng nghề, trong đó tập trung chủ yếu ở Hà Tây, Thái Bình, Thanh Hóa, Nam Định, Bắc Ninh,...hàng năm tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động và là nguồn thu nhập đáng kể của người nông dân. Nhưng tại các làng nghề tái chế giấy, tái chế nhựa, sản xuất bánh kẹo, dệt may thủ công ngoài bụi bặm, hơi kiềm, H2S, lượng nước thải đổ ra mương máng, sông ngòi có chứa các chất độc hại HCl, Cl2 ,CO quá mức cho phép... Ấy là chưa kể đến công tác quản lý hóa chất bảo vệ thực vật lỏng lẻo, dẫn đến việc bà con nông dân sử dụng một cách tùy tiện đã gây nên hiện tượng ô nhiễm đất, nông sản thực phẩm và làm giảm đa dạng sinh học của các hệ sinh thái nông nghiệp. Chúng ta vẫn thiếu một quy hoạch tổng thể trong hoạt động quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên môi trường ở các vùng sinh thái nông thôn. Tốc độ gia tăng dân số, tình trạng đói nghèo đầu ra của sản phẩm nông nghiệp bấp bênh, đặc biệt địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa đã và đang là áp lực đối với tài nguyên, môi trường nông thôn. Cơ chế quản lý tài nguyên, môi trường vừa thiếu sự thống nhất từ T.Ư xuống cơ sở, vừa có sự chồng chéo giữa các bộ, ngành và các địa phương. Sử dụng chưa hợp lý và có hiệu quả các tài nguyên, “bỏ quên” một diện tích lớn đất trống đồi trọc (gần 8 triệu ha); trong khi nước sạch và vệ sinh môi trường ở không ít vùng sinh thái đang là vấn đề nan giải, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Trình độ dân trí, sự thiếu hiểu biết về giá trị của các tài nguyên môi trường và hậu quả của những hành động tàn phá hữu ý và vô thức cũng là nguyên nhân đe dọa môi trường sinh thái nông thôn Việt Nam.
Theo GS. TS Lê Văn Khoa (trường Đại học khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội), tại Hội nghị khoa học do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức giữa tháng 4-2005 thì giải quyết những nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trường ở nông thôn Việt Nam, đòi hỏi phải có các giải pháp khoa học và đồng bộ. Đó là công tác quy hoạch sử dụng, khai thác các loại tài nguyên, môi trường phải đi trước một bước; ở đây một số văn bản quy phạm pháp luật cần cụ thể, rõ ràng để giúp các tổ chức, cá nhân dễ dàng thực hiện. Phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân các dân tộc vùng sâu, vùng xa là yếu tố góp phần sử dụng và bảo vệ bền vững các loại tài nguyên, môi trường ở nông thôn.
Về cơ chế chính sách và biện pháp nhằm khuyến khích cộng đồng tham gia vào công tác quản lý tài nguyên và môi trường. Muốn vậy, Nhà nước sớm đề ra được hệ thống chính sách về phát triển tài nguyên. Vấn đề kiểm soát ô nhiễm, khắc phục sự suy thoái tài nguyên, môi trường ở nông thôn (ngăn ngừa sự ô nhiễm các chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí; bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý đất đai, tài nguyên nước...). Xây dựng một chương trình nghiên cứu khoa học bao gồm một số đề tài lớn như: nghiên cứu hệ thống chính sách quản lý tổng hợp về môi trường nông thôn phục vụ cho sự phát triển bền vững, đánh giá mức độ suy giảm tài nguyên, môi trường nông thôn, những giải pháp khắc phục; phương pháp sử dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp an toàn, mô hình cung cấp nước sạch, bảo đảm vệ sinh môi trường ở các vùng sinh thái khác nhau, giải quyết tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề...