Mỗi năm giảm từ 2,3 - 2,5% hộ nghèo
Theo báo cáo của Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% năm 2010 xuống 9,6% năm 2012. Ở các xã và thôn, bản đặc biệt khó khăn (ĐBKK), tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 47% (2006) xuống 28,8% (2010); tại 62 huyện nghèo giảm từ 58,33% (2010) xuống 43,89% (2012). Giai đoạn 2005-2012 tỷ lệ giảm nghèo cả nước đều đạt và vượt chỉ tiêu, bình quân mỗi năm giảm từ 2,3 - 2,5%.
Về quy mô, kết quả giảm nghèo diễn ra ở tất cả các vùng, miền, thành thị và nông thôn trong các nhóm đối tượng. Năm 2012 chỉ còn miền núi Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo hơn 20% (28,55%).
Về chính sách tín dụng, từ năm 2005 - 2012, có gần 10 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn, giúp cho khoảng 2,4 triệu hộ thoát nghèo, Nhà nước hỗ trợ bù lãi suất 14.727 tỷ đồng. Đến hết năm 2012, có gần 3,263 triệu hộ nghèo dư nợ với mức bình quân khoảng 16 triệu đồng/hộ.
Về chính sách dạy nghề, tạo việc làm: Đề án hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 đã hỗ trợ dạy nghề cho gần 1,1 triệu lao động, trong đó lao động hộ nghèo chiếm 10,7%; lao động hộ cận nghèo chiếm 5,2%; lao động người dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 20,5%, tạo việc làm cho hơn 55 nghìn người thuộc hộ nghèo.
Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động tổ chức dạy nghề, học ngoại ngữ cho 12 nghìn lao động, đưa gần 8.500 lao động đi làm việc tại các thị trường như Malaysia, Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan…
Về chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe: Đến 2012, 100% người nghèo, đồng bào DTTS đã được mua thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) đạt hơn 15 triệu người, đối tượng cận nghèo có BHYT đạt hơn 1,6 triệu người (25%/tổng số người cận nghèo). Từ 2005 - 2012, ngân sách dành cho chính sách BHYT người nghèo, cận nghèo và đồng bào DTTS được bố trí hơn 38 nghìn tỷ đồng, so với tổng số chi thường xuyên cho y tế hằng năm đã tăng từ 27% (2009) lên 33% (2012).
Về chính sách hỗ trợ giáo dục - đào tạo: Giai đoạn 2006 - 2010 có khoảng tám triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí; 2,8 triệu lượt học sinh nghèo được hỗ trợ vở, sách giáo khoa. Năm học 2011 - 2012 đã có hơn bốn triệu lượt học sinh, sinh viên nghèo được hỗ trợ chi phí học tập, miễn giảm học phí, trợ cấp học bổng, hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em năm tuổi. Ngân sách Trung ương hỗ trợ để thực hiện miễn giảm học phí, trợ cấp học bổng, hỗ trợ kinh phí cử tuyển đối với học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo và hỗ trợ tiền ăn cho trẻ mầm non hơn 15,1 nghìn tỷ đồng.
Về chính sách hỗ trợ sửa chữa, xây dựng nhà ở, hỗ trợ đất sản xuất và nước sinh hoạt: hỗ trợ xây, sửa nhà ở cho hơn 531 nghìn hộ, trong đó có 230 nghìn hộ là đồng bào DTTS, hoàn thành hỗ trợ xây dựng 700 chòi phòng tránh lũ, lụt. Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở ngập lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2, đã hoàn thành tôn nền, đắp bờ bao cho 150/176 dự án, xây dựng hơn 14 nghìn căn nhà, đã bố trí dân vào ở trong cụm, tuyến và bờ bao được 22.423 hộ.
Thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất từ Chương trình trồng mới năm triệu ha rừng, đến năm 2010 đã có khoảng 1,2 triệu hộ gia đình với hơn 4,6 triệu lao động tham gia, trong đó có hơn 480 nghìn hộ nghèo (chiếm 38,6%), chủ yếu là đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao.
Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, huy động được 12.391 tỷ đồng; Chương trình nhà chống lũ, huy động được hơn 29 tỷ đồng; Chương trình bố trí dân cư, giai đoạn 2006 - 2012 được hỗ trợ từ ngân sách Trung ương là 6.573 tỷ đồng, chủ yếu để bố trí, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng đường giao thông và các công trình nước sạch, thủy lợi…
Về chính sách hỗ trợ sản xuất, kinh doanh thông qua các chương trình, khuyến nông-lâm-ngư nghiệp và xây dựng mô hình giảm nghèo: Giai đoạn 2006 - 2010 có 3,7 triệu lượt người nghèo được hướng dẫn cách làm ăn, xây dựng 8.500 mô hình trình diễn và hội nghị đầu bờ với hơn ba triệu lượt người nghèo tham gia, tổ chức 30 nghìn lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật. Đã có 218 xã thuộc 35 tỉnh triển khai các mô hình giảm nghèo với hơn 21,3 nghìn hộ nghèo tham gia.
Việc huy động, bố trí nguồn lực cho công tác giảm nghèo đạt hơn 881 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nguồn từ ngân sách Nhà nước là 864.050 tỷ đồng; nguồn từ đóng góp của xã hội của doanh nghiệp: 10.699 tỷ đồng; Quỹ vì người nghèo: 6.683 tỷ đồng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng nêu những khó khăn, thách thức trong công tác giảm nghèo hiện nay. Cụ thể như:
Mức sống của hộ nghèo và hộ cận nghèo chưa có sự khác biệt đáng kể nên nguy cơ tái nghèo cao. Một số địa phương có tỷ lệ nghèo giảm nhưng cận nghèo tăng chưa có giải pháp khắc phục.
Chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng, theo số liệu công bố mới nhất của Ngân hàng thế giới và Tổng cục Thống kê cho thấy hệ số chênh lệch này đã tăng đều từ 8,1 (2002) lên 9,4 (2012).
Tỷ lệ nghèo trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn còn cao, đồng bào DTTS chiếm gần 50% số người nghèo cả nước. Năm 2012, các xã 135 tỷ lệ nghèo vẫn ở mức hơn 40% và còn khoảng 900 nghìn hộ cận nghèo; thu nhập bình quân đầu người ở các xã này chỉ bằng khoảng 30% so với thu nhập chung khu vực nông thôn; cơ sở hạ tầng vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn vẫn còn nhiều hạn chế.
Đối với khu vực đô thị, một bộ phận người nghèo, người có thu nhập thấp có xu hướng phát sinh do quá trình đô thị hóa, di cư nông thôn - đô thị, phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong cuộc sống do phải bảo đảm chi phí đắt đỏ cho các dịch vụ y tế, nhà ở, giáo dục, đi lại và sinh hoạt tối thiểu. Ngoài ra, vấn đề nghèo còn chịu ảnh hưởng, tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, rủi ro trong cuộc sống và tệ nạn xã hội.
Từ đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội kiến nghị Chính phủ bảo đảm cân đối nguồn lực trung hạn cho các chính sách; lựa chọn chính sách ưu tiên để sử dụng nguồn lực hợp lý, công bằng; cải cách thủ tục hành chính, đổi mới phương thức để người dân tham gia xây dựng và tiếp cận chính sách tốt hơn. Tập trung đầu tư cho địa bàn khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, thúc đẩy kết nối phát triển kinh tế - xã hội giữa vùng khó khăn với các vùng phát triển; bảo đảm việc gắn kết giữa phát triển sản xuất nông nghiệp, cải thiện năng suất với bảo vệ môi trường.
Chính phủ cần nghiên cứu xây dựng chuẩn nghèo và chính sách giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều sau 2015 nhằm bảo đảm an sinh tối thiểu cho người nghèo về việc làm, bảo hiểm xã hội, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, trợ giúp pháp lý và thông tin để bảo đảm cho mục tiêu giảm nghèo bền vững; rà soát, phân loại và chuyển số nghèo kinh niên sang nhóm bảo trợ xã hội.
Ngoài ra, cũng cần sửa đổi, bổ sung một số chính sách về tín dụng ưu đãi hộ nghèo, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, ưu tiên giải quyết vấn đề thiếu đất sản xuất, đất ở đối với hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn khó khăn, đào tạo nghề cho lao động là người dân tộc thiểu số, đổi mới phương thức để hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận đầy đủ chính sách giáo dục, y tế, bảo đảm an sinh và công bằng xã hội...
Nên phân loại các đối tượng
Thảo luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005-2012, đại biểu Nguyễn Thị Hương Thảo (Hải Dương) kiến nghị ban hành riêng các chính sách trợ cấp cho các đối tượng cần bảo trợ xã hội, tách hẳn điều kiện phải thuộc diện hộ nghèo mới được hưởng trợ cấp, vì những đối tượng này sống hoàn toàn nhờ vào trợ cấp xã hội.
Đại biểu Lê Thị Yến (Phú Thọ) nêu ý kiến cần phải rà soát, phân loại và chuyển số nghèo kinh niên vì những lý do bất khả kháng, nghèo do không có khả năng lao động như người tàn tật, người già cô đơn, người bị bệnh mãn tính hiểm nghèo ra khỏi đối tượng để bình xét hộ nghèo và chuyển họ sang nhóm đối tượng bảo trợ xã hội, đề nghị nâng mức trợ cấp xã hội hằng tháng lên để bảo đảm mức sống tối thiểu cho họ. Với các đối tượng nghèo khác cũng cần phải có quy định về phân loại đánh giá nguyên nhân gây nghèo để có các giải pháp, chính sách hỗ trợ cụ thể phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm đạt hiệu quả giảm nghèo bền vững cũng như bảo đảm tính công bằng và ý nghĩa xã hội của chính sách giảm nghèo.
Cùng quan điểm này, đại biểu Lưu Thị Huyền (Ninh Bình) cho rằng cần tiếp tục phân loại theo mức độ nguyên nhân đói nghèo để có chính sách hỗ trợ phù hợp. Mức sống của hộ cận nghèo so với hộ nghèo còn gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, đây là những đối tượng dễ bị tổn thương trong điều kiện lạm phát cao, các chi phí về giáo dục, y tế, tìm việc làm tăng cao, có thể kéo mức sống của họ xuống thấp hơn nữa. Bên cạnh việc thực hiện các chương trình về mục tiêu giảm nghèo cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ đối với đối tượng cận nghèo, giúp họ đủ lực để vượt qua khó khăn, từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững.
Ngoài ra, cần chú trọng chính sách tạo sinh kế cho người dân khu vực bị thu hồi đất nông nghiệp và tạo điều kiện để lao động được học nghề, giải quyết việc làm tại các khu công nghiệp, trong đó chú trọng các ngành nghề có lợi thế của địa phương và lao động di cư vào đô thị ổn định cuộc sống. Trong giảm nghèo bền vững rất cần thiết phải đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là dạy nghề, tạo việc làm. Phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm. Vấn đề này đã được Chính phủ quan tâm như phát triển mô hình trung tâm dạy nghề cấp huyện, đặc biệt các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a, Chương trình 1956 dạy nghề cho lao động nông thôn.