Người Quỳnh Lương bán rau trên mạng

Ông Hồ Văn Sáu, Chủ tịch UBND xã Quỳnh Lương nói giọng có chút ngại ngần xen lẫn niềm hãnh diện: Chúng tôi sẽ gửi đến các đồng chí bản báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội, các báo cáo chuyên đề và những văn bản liên quan qua thư điện tử. Mong các đồng chí thông cảm vì các tài liệu này đã hết. Mỗi năm chúng tôi “phải” đón tiếp từ 50- 60 đoàn tham quan, học tập kinh nghiệm đến từ khắp nơi trong cả nước, có ngày tiếp vài ba đoàn, đoàn nào cũng xin tài liệu...

Trong câu chuyện với các cán bộ xã, ngược dòng thời gian, chúng tôi được biết về quá trình trăn trở, mày mò tìm hướng đi lên của Quỳnh Lương. Cách đây độ chục năm, Quỳnh Lương vẫn là một xã nghèo của huyện Quỳnh Lưu. Xã thuộc vùng bãi ngang ven biển, diện tích đất canh tác chưa đầy 250ha trong khi nông nghiệp được coi là ngành sản xuất chính. Với hơn 6800 dân, bình quân đất sản xuất của người dân Quỳnh Lương chỉ đạt 300m2/người. Đất đai Quỳnh Lương tuy là đất bãi nhưng lại là đất phù sa cổ, bạc màu, độ phì thấp.  

Trước năm 1990, dân Quỳnh Lương mỗi năm trồng cấy hai vụ: một vụ lúa, một vụ khoai, nhưng do không có hệ thống tưới tiêu nên năng suất cây trồng thấp, đời sống của người dân bữa đói bữa no. Năm 1992 thực sự là một bước ngoặt khi Quỳnh Lương trở thành xã đầu tiên có điện. Cán bộ và người dân trong xã cùng suy nghĩ để tìm cách ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng? Đất không tốt nhưng có nguồn nước ngọt ở tầng nông và thường xuyên được bổ sung bằng lượng mưa phân bố đều trong năm nên Đảng ủy và UBND xã quyết định chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang sản xuất rau màu.

Xã khoanh vùng đồng thời tập trung xây dựng cơ sở vật chất cho việc làm màu. Năm 1997, xã tiến hành khoanh vùng chuyển đổi diện tích, chuyển ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn để thuận tiện cho việc sản xuất.

Ông Hồ Chí Tùng, Bí thư Đảng ủy xã kể: Bà con thấy trồng màu thu nhập khá nên tuy vất vả nhưng vẫn rất nhiệt tình ủng hộ chủ trương của xã. Những năm đầu trồng màu, mỗi người phải gánh khoảng 100 gánh nước/ngày. Ngọn rau làm ra như được tưới bằng cả mồ hôi của người nông dân. Một số hộ dân năng động rủ nhau xây giếng ở ngoài đồng để lấy nước tưới, sau tạo thành một phong trào sâu rộng. Tính đến nay, trên các cánh đồng của Quỳnh Lương, đã có hơn 3.000 giếng xây bê-tông, chi phí làm mỗi giếng khoảng một triệu đồng. Xã đầu tư đường điện ra tận ngoài đồng với kinh phí khoảng năm tỷ đồng. Người dân được lắp đặt đồng hồ đo điện ngay tại đầu bờ ruộng. Nông dân trong xã đã đầu tư mua hơn 1.500 máy bơm nước để phục vụ sản xuất. Hàng nghìn mét đường ống nhựa dẫn nước chạy ngang dọc khắp cánh đồng, giải phóng đôi vai người nông dân khỏi sức nặng của những gánh nước.

Từng bước, diện tích trồng màu cứ thế lan rộng ra. Đất trồng lúa thu hẹp dần cho đến năm 2000, trên đồng đất Quỳnh Lương, không còn bóng dáng của cây lúa. Làm lúa vất vả, lại bấp bênh, trong khi, một sào hành đã thu khoảng năm triệu đồng/vụ! Hay như trồng cây cải xanh, cải ngọt, mỗi lứa tính từ khi trồng đến khi thu hoạch chỉ mất 12 đến 15 ngày, nhưng thu nhập cũng gấp nhiều lần làm lúa.

Nghề trồng rau, màu làm tăng thu nhập đáng kể cho người lao động, tuy nhiên do chạy theo năng suất, nên những năm trước, phần lớn dân Quỳnh Lương vẫn bón phân tươi, phân hóa học và dùng thuốc bảo vệ thực vật ...khiến chất lượng rau màu không bảo đảm. Ý thức nghiêm túc về việc xây dựng thương hiệu, năm 2002  Quỳnh Lương đã xây dựng quy trình kỹ thuật làm rau an toàn và áp dụng đại trà trong sản xuất. Người dân được hướng dẫn cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới, phân bón và Ban Khuyến nông xã giám sát chặt chẽ quy trình chất lượng.

Năm 2003, rau sạch Quỳnh Lương tham gia triển lãm rau an toàn toàn quốc và đoạt giải ba. Sau thành công này, để động viên, cổ vũ nông dân Quỳnh Lương mạnh dạn hơn nữa trên con đường xây dựng thương hiệu rau sạch, S Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An đã giúp xã xây dựng website để quảng bá sản phẩm của mình. Trang web www.quynhluong.gov.vn ra đời như cánh tay nối dài giúp nông dân Quỳnh Lương tìm kiếm thêm các bạn hàng ở xa. Nhiều bạn hàng ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng... xem hàng trên mạng, đặt hợp đồng, xã chuyển địa chỉ cho các tổ liên gia đáp ứng.

Kinh tế khá giả dần, phần nữa cũng do nhu cầu của công việc làm ăn, nhiều hộ gia đình đã lắp đặt máy điện thoại. Cho đến nay, trung bình cứ hai hộ dân Quỳnh Lương có một máy điện thoại cố định. Hiện cả xã có khoảng 30 người làm nghề thu gom rau xuất đi các tỉnh Trung Trung Bộ; nhiều nhà mua cả xe tải để vận chuyển hàng. Hiện một ngày người dân Quỳnh Lương xuất khỏi địa bàn từ 20-30 tấn rau. Vào các dịp cao điểm như tháng 12, tháng 1 dương lịch hằng năm, lượng tiêu thụ lên cao gấp đôi gấp ba lần.

 Đất đai Quỳnh Lương giờ đây quay vòng 4,5 đến 5 vòng một năm, buổi sáng vừa thu vụ trước, buổi chiều đã trồng vụ sau. Nào là hành hoa, rau cải, cà rốt, cà chua,  lạc, đậu, ngô bao tử.. đồng đất Quỳnh Lương mùa nào thức nấy, chẳng thiếu thứ gì. Cây hành hoa được coi là cây trồng chủ lực trong số 17 loại rau màu của xã, mỗi năm các sản phẩm từ hành cũng lên đến chừng 10 nghìn tấn.

Người dân Quỳnh Lương cần cù, chịu khó, cứ bỏ sức lao động ra mà gặt hái thành quả thì dẫu có vất vả đến mấy họ cũng chẳng nề hà. Chủ tịch xã Hồ Cảnh Sáu nói: “Hai giờ đêm, khi người dân nơi khác còn đang yên giấc thì đồng đất Quỳnh Lương đã rực sáng ánh đèn... Năm 2005 thu nhập bình quân đầu người của chúng tôi là 6,7 triệu đồng/năm, thuộc loại cao nhất của huyện; năm nay ước tính sẽ nâng lên đạt khoảng 7,4 triệu đồng/năm”.

Hiện nay, tính trung bình một ha canh tác ở Quỳnh Lương cho thu nhập khoảng 70 triệu đồng. Trong khi nhiều địa phương đang ra sức xây dựng những cánh đồng 50 triệu đồng/ha thì Quỳnh Lương đã dám đặt chỉ tiêu phấn đấu đạt 100- 120 triệu đồng/ha. Có lẽ nhiều người có thể còn ngờ? Song với cách làm năng động, nhiệt tình của đội ngũ cán bộ xã, sự cần cù chịu khó của người nông dân Quỳnh Lương, tin rằng chỉ tiêu đó sẽ thành hiện thực.

Có thể bạn quan tâm