Người phụ nữ hiến toàn bộ gia sản cho cách mạng

Người phụ nữ hiến toàn bộ gia sản cho cách mạng

Từng nghe ông Tạ Quang Chiến, một chiến sĩ bảo vệ Bác Hồ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhắc đến bà với tấm lòng trân trọng, nay được gặp bà, nghe câu chuyện bà bỏ 200 cây vàng ra mua nhà, làm địa điểm cho Bác ở những ngày vận nước "ngàn cân treo sợi tóc", tôi thật sự khâm phục tấm lòng yêu nước cao cả và đóng góp to lớn của bà cho cách mạng.

Gương mặt vẫn giữ được nét đẹp phúc hậu, bà Tống Minh Phương (tên thật là Trần Thị Hoa) đưa tôi trở lại những năm 40 của thế kỷ 20 ở Côn Minh (Trung Quốc).

Gia đình tôi gốc ở làng Kim Liên. Cha mất sớm, mẹ và các chị tôi phải sang Côn Minh sinh sống. Khi tôi 15 tuổi (1930), gia đình ở Côn Minh đã ổn định, mẹ mới đón tôi sang. Những người Việt nghèo khổ, phải xa quê hương nhưng lòng luôn hướng về đất mẹ. Khoảng năm 1935, anh Vũ Anh không hoạt động ở Thái-lan được nữa, phải sang Côn Minh. Anh ấy tập hợp bà con Việt kiều yêu nước trong Hội đồng hương. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hội đồng hương đã phát triển khá nhiều hội viên. Cán bộ của Hội cũng được tăng thêm một số người từ trong nước sang.

Trên cơ sở đó, Hội đồng hương đổi tên thành "Việt Nam cách mạng giải phóng". Tôi và chồng tôi - ông Tống Minh Phương - đều tham gia hoạt động cho tổ chức. Chúng tôi quyên góp, gửi tiền về nước theo đường dây bí mật cho hiệu sách chợ Ðồng Xuân. Ðây là hiệu sách lớn nhất của Mặt trận Dân chủ Ðông Dương ở Hà Nội, có rất nhiều sách của các tác giả Pháp và Trung Quốc. Ngoài ra, Hội còn mua sách về chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho hội viên. Nhà tôi trở thành địa điểm họp hành của Hội và là cơ sở nuôi giấu cán bộ từ trong nước sang. Tôi mở quán cà-phê "Tân Nam" để vừa che mắt địch, vừa có kinh phí gây quỹ cho Hội.

Từ năm 1941, Mặt trận Việt Minh thành lập, chúng tôi bắt liên lạc với Mặt trận, ủng hộ Việt Minh chống thực dân Pháp. Năm 1944, ở Côn Minh có một số binh sĩ của lực lượng không quân Mỹ thuộc phe đồng minh - những người Mỹ tiến bộ. Họ hứa sẽ giúp ta vũ khí nếu có đại diện chính thức của Việt Minh từ trong nước đến gặp họ. Tổ chức "Việt Nam cách mạng giải phóng" bí mật cử người đến chiến khu, liên lạc với Mặt trận Việt Minh.

Sau đó, Bác Hồ đích thân sang Côn Minh, anh Phùng Thế Tài cùng đi bảo vệ Bác. Bác ở nhà tôi để bí mật tiếp xúc với những người thuộc phe đồng minh và hội đàm với họ. Kết quả là họ đồng ý ủng hộ Mặt trận Việt Minh một ít vũ khí và thuốc men. Bác ở nhà tôi vài tháng (từ cuối 1944 đến đầu 1945) rồi trở về Pác Bó lãnh đạo toàn dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Cách mạng Tháng Tám thành công, tôi vẫn chưa được về quê hương, vì Bác bảo tôi ở lại làm cơ sở liên lạc cho các đồng chí trong nước.

Khoảng giữa năm 1946, quân của Vũ Hồng Khanh theo bọn Tưởng Giới Thạch chạy sang Côn Minh phá phách dữ quá, tôi phải gấp rút bán toàn bộ nhà cửa, tài sản trong một buổi tối để về nước. Gặp lại Bác Hồ ở thủ đô Hà Nội, khi nước nhà đã giành được độc lập, chúng tôi vô cùng xúc động. Bác bảo anh Trần Duy Hưng: "Bác giao cô chú Tống Minh Phương cho chú, chú bố trí chỗ ăn ở cho cô chú ấy".

Sau đó, tôi gặp anh Cả (đồng chí Nguyễn Lương Bằng), nhận công tác. Toàn bộ số vàng mang từ Côn Minh về, tôi hiến cho tài chính Ðảng. Theo sự hướng dẫn của anh Cả, tôi bỏ 100 cây vàng mua nhà ở 110, 112, 114 phố Lò Ðúc làm nhà an dưỡng cho các đồng chí già yếu, nhưng cũng chỉ có một vài đồng chí đến ở thôi.

Hà Nội lúc này đang sôi nổi trong bầu không khí của cách mạng với bao công việc bộn bề, các đồng chí đảng viên an dưỡng sao được. Cũng khoảng thời gian này, tôi đưa 100 cây vàng cho anh Cả. Anh cử người mua biệt thự của một Pháp kiều ở dưới Cầu Mới. Ðường dẫn vào cổng có hai hàng liễu rất đẹp nên gọi là Biệt thự cây liễu.

Từ tháng 10-1946, lính Pháp thường gây hấn trong thành phố, nên để bảo đảm an toàn, anh Cả bố trí nhiều địa điểm ở nội và ngoại thành cho Bác nghỉ đêm. Bác chỉ xuống nhà 112 Lò Ðúc nghỉ đêm một lần. Sau đó, theo lệnh anh Cả, tôi xuống Biệt thự cây liễu để trông và dọn dẹp nhà cửa để Bác đến ở.

Nhà có ba gian thì gian đầu dành cho Bác ở, gian giữa để hội họp, gian cuối ngăn đôi: vợ chồng anh Võ Nguyên Giáp ở nửa gian, tôi ở nửa gian. Tháng 11-1946, tình hình giữa ta và Pháp đã rất căng thẳng, Bác và các anh trong Thường vụ Trung ương đến đây họp bốn, năm buổi thống nhất các chủ trương lớn của cuộc kháng chiến. Ðêm nào họp khuya, Bác mới ngủ lại. 5 giờ chiều 19-12-1946 tôi rời ngôi nhà này, ra Bình Ðà rồi lên chiến khu. Từ năm 1947 đến năm 1950, tôi thành người "coi kho" cho Ðảng. Số vàng quyên góp được trong "Tuần lễ vàng", anh Cả giao cho tôi bảo quản.

Những năm tháng ở chiến khu gian khổ, nỗi khổ lớn nhất của tôi không phải là ăn uống kham khổ, sinh hoạt thiếu thốn mà là không được ở cùng anh chị em cơ quan, cứ một mình ở biệt lập một nơi với kho vàng, buồn vô cùng, khi nào có phiếu của anh Cả thì xuất kho. Mãi đến năm 1948, tôi mới được ở gần mọi người, ăn cùng bếp cơ quan. Thỉnh thoảng, lúc Bác mệt nhiều hoặc ốm, anh em cận vệ đón tôi sang nấu cháo và chăm sóc Bác.

Ở bên Người, niềm hạnh phúc lớn nhất là được Người ân cần chỉ bảo, với tình cảm ấm áp như cha với con. Tôi làm thủ kho cho đến năm 1950 thì chuyển công tác khác, sau đó làm việc ở nước ngoài (cán bộ Bộ Ngoại thương) suốt từ năm 1952 đến năm 1969.

Công việc thầm lặng của bà và sự đóng góp to lớn của ông bà cho cách mạng đã được Nhà nước ghi nhận ngay trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 30-6-1952, Chính phủ đã ký tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng ba, ghi công: "Ông và bà Tống Minh Phương đã tận tụy với sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời kỳ bí mật, đã cống hiến hết gia tài cho cách mạng". Năm 1996, bà được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Ðộc lập hạng ba.

Nhưng điều quý nhất chính là tấm lòng yêu nước cao cả của bà. Vượt lên mọi nỗi riêng tư, bà sống giản dị, thanh bạch như thuở xưa theo Bác Hồ kháng chiến, chẳng màng danh lợi, chẳng bận lòng đòi hỏi điều gì cho riêng mình. Từ một người Việt Nam yêu nước ủng hộ Việt Minh ở Côn Minh, hoạt động cách mạng từ năm 1935, được kết nạp Ðảng từ năm 1948, bà đã cống hiến cả cuộc đời cho dân, cho nước.

Có thể bạn quan tâm