Tóm tắt câu chuyện của họ
Kịch bản có đoạn đầu “Điện Biên Phủ là câu chuyện của họ”
Trên bức tường cẩm thạch đen của đài tưởng niệm trận chiến Việt Nam tại Washington, thủ đô nước Mỹ, không có tên hai phi công James B.Mc Govern và Wallace A.Buford. Họ bị bắn rơi khi chở tiếp liệu cho lính Pháp trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh Đông Dương. Xác của họ không tìm thấy. Có thể họ sẽ mất tích vĩnh viễn trong vùng núi Điện Biên Phủ Việt Nam. Tên của họ đã bị bỏ sót. Gia đình họ cũng không biết họ ở nơi đâu. Câu chuyện của họ là người Mỹ đầu tiên bị mất tích ở Việt Nam. Tên tuổi họ cũng mờ phai theo thời gian, các nhà đương chức cũng lãng quên, không một lần nhắc đến.
Năm năm sau trận Điện Biên Phủ, một viên chức người Pháp loan báo rằng ông đã tìm được hài cốt của họ. Dân làng bản Sót khu vực Mường Hét gần biên giới Việt Nam đã mai táng hài cốt của họ trong một ngôi mộ xây kiểu Phật giáo. Giới quân sự Pháp đã thông báo sự việc cho cơ quan hàng không dân sự Mỹ và cơ quan này đã xác minh bản thông báo. Nhưng giới chức mới của cơ quan này không có hành động gì thêm. Bản điều tra này được đánh dấu “Mật” và biến mất cho đến khi nó được Tiến sĩ William Leary tìm thấy trong văn khố quốc gia Hoa Kỳ hai thập kỷ sau đó. Năm 1998, nhóm truy cứu thuộc cơ quan chỉ huy hỗn hợp tìm kiếm tù nhân và người mất tích (JPAC) tìm thấy xác một chiếc C119 của Pháp giống như cái mà Mc Govern và A.Buford đã bay nhưng các thi hài tìm được lại là những người khác. Cuộc tìm kiếm trong tương lai đã được hoạch định. Có thể một ngày nào đó hài cốt của Mc Govern và A.Buford sẽ được đưa về nhà.
Qua câu chuyện về Mc Govern và A.Buford, đạo diễn người Mỹ Douglas Paynter muốn làm sống lại trận chiến đấu Điện Biên Phủ, một trong những trận chiến quan trọng nhất của thế kỷ 20. Sử dụng những đoạn phim tư liệu, những cảnh diễn lại và lời kể của các nhân chứng, sẽ kết nối hài hòa câu chuyện của hai người lính Mỹ tử trận đầu tiên ở Việt Nam với cách nhìn riêng tư về trận chiến quan trọng này.
Lược ghi về kịch bản
Kịch bản có nhiều khía cạnh tinh tế, những hình ảnh sâu kèm thuyết minh nói về lịch sử, nhiều cảnh có nội dung suy tư, tâm tưởng chìm nổi theo thời gian, không gian. Ở đây tôi chỉ ghi lại mấy nét phác họa.
Phim bắt đầu quay ở đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam tại nước Mỹ. Có nhiều người chìm đắm trong suy tư-không gian sâu lắng nghĩ về cuộc chiến tranh đã làm chia rẽ toàn thể nước Mỹ. Hơn 50.000 binh lính đã phải trả cái giá cuối cùng-chua xót. Tên họ được khắc trên bức tường tưởng niệm chiến tranh Việt Nam-không có tên hai phi công bị bắn rơi ngày 6-5-1954 tại chiến trường Điện Biên.
Chuyển sang cảnh quay vùng phía Bắc Việt Nam thời Đông Dương thuộc Pháp tháng 11-1953 có hình ảnh lính Pháp nhảy dù. Ngày 20-11-1953, bộ binh Pháp tiến vào trung tâm lãnh thổ đối phương. Đại tá Pháp Marcel Bigeard tuyên bố với binh lính của ông ta là “Hãy nhìn thẳng vào thần chết... các bạn đang tiến vào nơi tử địa”- Câu nói đó đã trở thành lời tiên tri. Cảnh các máy bay C119-C46 chuyên chở người và tiếp liệu hoạt động ở Đông Dương.
Tiếp nối chuyển sang các ảnh chụp gia đình và phim tư liệu nói về tiểu sử hai phi công, chuyển sang các đoạn phỏng vấn các cựu phi công đồng đội bạn bè của họ.
Chuyển sang các đoạn phim tài liệu về Điện Biên Phủ: Quân Pháp nhận tiếp liệu, đào chiến hào củng cố vị trí. Gắn nối phim tài liệu về tướng Navarre khiêu khích phía Việt Nam tiến công Điện Biên Phủ. Nhà sử học quân đội Bill Wilde thuyết trình chiến thuật của quân Pháp với lực lượng quân viễn chinh 16.000 quân Pháp và nhiều loại vũ khí mạnh. Wilde giới thiệu khá đầy đủ từng đơn vị và về Đại tá Christan Croaix de Castries, viên chỉ huy quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ.
Tiếp sang phim tài liệu quay cảnh các đoàn quân Việt Minh. Họ thể hiện những nỗ lực phi thường chuyển vũ khí súng đạn qua rừng rậm, vượt núi non hiểm trở. Ông Wilde tường thuật rằng Việt Minh đã làm được những việc mà không ai có thể tưởng tượng được, đã đưa các dàn pháo và hơn 50.000 quân vào chiến hào trước mũi quân Pháp mà không bị phát hiện. Chúng ta thấy cảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy trận Điện Biên Phủ, trước thềm của cuộc chiến, ông đã đưa vào được 288 khẩu đại pháo trong khi lực lượng Pháp chỉ có 88 khẩu. Cảnh lực lượng Việt Minh đào hệ thống chiến hào bao lấn ngay gần sát phòng tuyến lính Pháp.
Chuyển sang cảnh chết chóc tàn phá, thấy cảnh máy bay liều mạng trong lưới đạn phòng không dày đặc để thả tiếp tế cho quân đội Pháp đang bị bao vây. Qua phỏng vấn các phi công, họ kể lại phải chịu đựng lưới lửa phòng không dữ dội ngày này qua ngày khác. Steve Kusak và một số phi công kể về những sự việc trong ngày 6-5-1954, ngày James Mc Govern và Wallace Buford bị bắn rơi. Các cuộc phỏng vấn xen kẽ các đoạn tài liệu.
James và Wallace cất cánh từ Hải Phòng, chọn hướng ngược với các chuyến bay trước mong đánh lạc hướng lực lượng phòng không Việt Minh, giảm dần độ cao tiến vào thung lũng Điện Biên Phủ. Chưa vào được điểm thả dù thì một quả đạn phòng không đã trúng vào động cơ bên trái của máy bay. Dầu xăng phun ra, anh tắt động cơ trong khi các xạ thủ phòng không bám không rời chiếc C119 này. Bất ngờ một quả pháo cao xạ nữa bắn trúng đuôi, máy bay mất kiểm soát lao vào không trung, rối loạn, tới gần Mường Hét bên Lào, James gọi điện đài, câu nói cuối cùng của anh ta là: “Có vẻ đây rồi, con ơi”. Steve Kusak bay gần đấy nhìn theo một cách tuyệt vọng, chiếc C119 đâm xuống một ngọn núi và bùng cháy. Ngày hôm sau (7-5-1954), Tướng Castries điện về cho Tướng Navarre ở Hà Nội để báo cáo rằng đối phương đã tràn vào đại bản doanh, ông ta nói “Chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, vĩnh biệt Đại tướng, nước Pháp muôn năm”. Vài giờ sau, Điện Biên Phủ thất thủ.
Chuyển sang cảnh yên bình của nông thôn Việt Nam ngày nay. Nông dân đội nón lá làm việc ngoài đồng lúa. Trẻ con trên lưng trâu và phụ nữ mặc những chiếc áo dài truyền thống tản bộ trên đường quê. Tiếp theo cảnh các nhà ngoại giao ký hiệp ước chấm dứt nền đô hộ của Pháp ở Đông Dương. Rồi lại cảnh làng quê thanh bình ở Việt Nam. Chúng ta theo dõi nhóm truy cứu thuộc cơ quan chỉ huy hỗn hợp tìm kiếm tù nhân và người mất tích (JPAC) làm việc ở Hà Nội. Vẫn còn khoảng 1.800 trường hợp mất tích trong cuộc chiến ở Việt Nam, trong đó có James Mc Govern và Wallace Buford...
Hành trình trên thực địa
Đầu tháng 2-2004, cơ quan Trung tâm báo chí Bộ Ngoại giao (Việt Nam) cử ông Đinh Hoàng Linh đến gặp ông Nguyễn Mạnh Đàn, chủ tịch Ban Liên lạc truyền thống tiểu đoàn pháo cao xạ 383 đề nghị được giao tiếp với các cựu chiến binh pháo cao xạ chiến đấu tại chiến trường Điện Biên Phủ, tìm hiểu trận đánh bắn rơi 1 máy bay C119 của Mỹ ngày 6-5-1954. Dự định sẽ tổ chức gặp gỡ các nhân chứng của Đại đội cao xạ 816- tiểu đoàn 383 trung đoàn pháo cao xạ 367 tại Hà Nội để lấy tài liệu và thu hình vào ngày 18-2-2004. Chương trình thay đổi bằng phương án tốt hơn: sẽ ghi hình tại trận địa cũ (1954). Đoàn làm phim do nhà báo Đinh Hoàng Linh làm trưởng đoàn cùng đạo diễn người Mỹ Douglas của hãng phim Wind River LLC lên đường đi thành phố Điện Biên.
Làm việc bốn ngày liên tục từ 13-2 đến 16-2-2004. Tổ quay phim Xưởng phim Tài liệu thời sự Trung ương gồm có quay phim chính Vương Khánh Luông, phụ quay Nguyễn Như Hải, Vũ Hồng Sơn kiêm đạo diễn và kỹ thuật, âm thanh. Với tay nghề cao, các anh chọn lọc cẩn trọng theo yêu cầu, ý định của đạo diễn các cảnh quay và ghi âm tại trận địa cũ.
Nhân chứng lịch sử gồm ba cựu chiến binh đều ở tuổi ngoài 70, một cựu chiến binh bộ binh và hai cựu chiến binh cao xạ đã tham gia trực tiếp chiến đấu tại Điện Biên Phủ năm 1954, nhập cuộc rất bất ngờ, thời gian quá gấp, không có chuẩn bị trước. Thực hành chương trình đóng diễn không có sẵn lời thoại. Trở về cương vị “người xưa”, làm nhân chứng sống, ôn nhớ chiến tích cũ, diễn kể để quay lại hoạt động chiến đấu, họ tự gọi nhau là diễn viên, ứng khẩu giải đáp phỏng vấn tại trận địa cũ.
Một nhân chứng là Đại tá Hoàng Đăng Vinh nguyên là “Dũng sĩ xung kích” trực tiếp bắt sống tướng De Castries. Anh kể lại hoạt động chiến đấu của tổ mũi nhọn Đại đội 360 (Đại đoàn 312) trong đội hình thọc sâu thuộc quyền chỉ huy đại đội trưởng Tạ Quốc Luật đã luồn dưới làn mưa đạn, băng qua cầu Mường Thanh tiêu diệt các ổ đề kháng của địch bảo vệ khu hầm chỉ huy... Tiểu đội trưởng Hoàng Đăng Vinh phân công người bịt cửa hầm rồi lao cực nhanh đột nhập đường hầm bất ngờ tóm được tướng giặc, chớp nhoáng, toàn tổ xung kích lọt vào hầm bắt toàn bộ Bộ chỉ huy đầu hàng hồi 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954. Câu chuyện đối mặt với Bộ chỉ huy Pháp ở Điện Biên Phủ rất thú vị, Hoàng Đăng Vinh diễn đạt sống động các hoạt động. Những suy nghĩ và động tác xuất thần, linh lợi, vô cùng thông minh dũng cảm của tổ mũi nhọn rất hấp dẫn và thuyết phục. Sau trận Điện Biên Phủ, Hoàng Đăng Vinh được chọn đi đào tạo cán bộ công binh, rồi làm chính ủy trường Công binh nhiều năm mà đơn vị không biết anh là dũng sĩ bắt sống tướng De Castries ở Điện Biên Phủ. Bước sang tuổi 70 anh vẫn còn sung sức gánh vác Chủ tịch Hội cựu chiến binh ở thị xã Bắc Ninh.
Nhân chứng thứ hai là “Dũng sĩ cứu pháo Nguyễn Thế Vinh, nguyên là khẩu đội trưởng khẩu đội 2 cùng tập thể đại đội pháo cao xạ 816 hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, tiêu diệt sáu máy bay Pháp tại Điện Biên Phủ. Chiến công bắn hạ hai máy bay C119 ngày 6-5-1954 thuộc về đại đội pháo cao xạ 816. Nguyễn Thế Vinh nghe rất rõ chỉ thị mục tiêu trên của đại đội trưởng Lại Văn Đạm và lời động viên kịp thời của chính trị viên Vũ Tuấn Chuyển chỉ huy khẩu đội 2 cùng các khẩu đội bạn hiệp đồng chặt chẽ phát huy hỏa lực, cả bốn nòng pháo đồng loạt nổ-chùm đạn chụp trúng chiếc thứ nhất, bồi thêm loạt hai, chuyển bắn chiếc thứ hai và bắn bồi một loạt nữa vào chiếc C119 (số 1) trên đường bay ra, cả hai chiếc máy bay hai thân bị trúng đạn trút dù hàng để chạy trốn... Thân máy bay hai thân như chiếc thuyền che lấp cả hai ống kính, chớp đúng thời cơ, đạp cò, từng chùm đạn vút lên thọc vào bụng, thân, cánh. Quan sát viên nhìn thấy vết đạn trúng cánh trái chiếc thứ nhất tóe lửa, đuôi trái chiếc thứ hai trúng đạn, cả hai C119 bay chệnh choạng chạy trốn về hướng nam. Dù hàng của C119 rơi gần trận địa, bộ đội được cải thiện sau khi được lệnh của chính ủy Ngô Từ Vân cho phép sử dụng.
Trong ngày 6-5-1954 diễn ra ba trận đánh quyết liệt với máy bay trên không, còn đối mặt với đạn pháo, đạn cối chế áp trận địa. Các pháo đã chuẩn bị đạn xuyên bắn tiêu diệt xe tăng từ Hồng Cúm có thể xông ra phá trận địa. Ngay chiều 6-5-1954 cấp trên thông báo: một C119 rơi cách Điện Biên Phủ 120km trên đất Lào sát biên giới Việt Nam, chiếc thứ hai bị trúng đạn có thể rơi ở xa hơn. Không ngờ tên giặc lái máy bay vận tải hai thân đó lại là người Mỹ. Chưa bắn rơi tại chỗ, coi như vẫn còn nợ với cấp trên. Chưa tóm được giặc lái là chưa đạt chỉ tiêu phải tiếp tục chuẩn bị cho những trận sau, đơn vị dốc sức chuẩn bị hầm hào, luyện đánh bộ binh xe tăng địch, luyện đánh ban đêm...
Tại thực địa chiến trường xưa nhân chứng đã tái hiện lại những trận đánh quyết liệt nơi đây. Nếu không tinh khôn, có lẽ chúng tôi đã bị kẻ địch hủy diệt trước khi nổ súng. Trên cánh đồng phẳng này, các loại hỏa lực bắn thẳng của địch từ các hỏa điểm đạn lưới trút đạn khó có sinh vật nào thoát nổi. Thế mà đại đội 816 kéo bốn khẩu pháo (mỗi khẩu 2,5 tấn) bằng ô-tô đặt trận địa cao xạ chặn họng cụm cứ điểm Hồng Cúm với gần 2.000 lính, có xe tăng, xe bọc thép, trận địa pháo bảo vệ. Trận địa pháo cao xạ như lưỡi kiếm nhọn thúc ngang sườn quân địch.
Sau 50 năm mà nhân chứng Nguyễn Thế Vinh còn nhớ khá nhiều chi tiết trận đánh. Người khẩu đội trưởng năm xưa còn nhớ rành mạch tính năng pháo, những tham số phần tử bắn; chỉ tay lên không trung vạch lại đường đạn bắn trúng máy bay địch. Đạo diễn Douglas (người Mỹ) ngửa mặt lên trời như cảm nhận điều gì đó về số phận tuyệt vọng của những chiếc máy bay Mỹ ngày nào trên bầu trời Điện Biên. Trở lại với những nhân chứng, đạo diễn người Mỹ ngỡ ngàng khi biết người khẩu đội trưởng Nguyễn Thế Vinh có thành tích xuất sắc cứu pháo tụt dốc. Anh đã hành động như anh hùng Tô Vĩnh Diện, anh rất tự hào về tấm giấy khen “Dũng sĩ cứu pháo” của Bộ tư lệnh đại đoàn 351. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Nguyễn Thế Vinh được tuyển chọn đi đào tạo cán bộ văn hóa. Tốt nghiệp nhạc viện Tchaikovski Liên Xô (1955-1956) anh trở thành nghệ sĩ, nhà giáo ưu tú (1990), phó giáo sư, phó giám đốc Nhạc viện Hà Nội. Nghỉ hưu vẫn tham gia giảng dạy đào tạo lớp nghệ sĩ trẻ.
Nhân chứng thứ ba là đại tá Nguyễn Cần, nguyên là đại đội phó đại đội pháo cao xạ 816 Điện Biên Phủ (1954). Anh kể lại trận chiến đấu ngày 6-5-1954: Từ cuối tháng 4-1954, cấp chiến dịch đã bố trí thế trận trên không, tập trung đủ hỏa lực cao xạ tạo lưới lửa chặn đường bay hướng Đông Nam để triệt cắt đường bay tiếp tế của các loại máy bay lợi dụng lõng núi bay từ hướng nam tới Hồng Cúm tiếp sức cho quân tướng De Castries đang trong tình thế lâm nguy. Được cấp trên tổ chức một trận đánh nghi binh, một đơn vị bộ binh uy hiếp các cứ điểm trên cao và khống chế pháo binh, tạo bất ngờ cho đại đội 816 băng qua chặng đường ác hiểm gần 6km chuyển từ Him Lam xuống thiết kế trận địa “Huổi Hóc” sát Hồng Cúm. Xe pháo nối đuôi bò giữa cánh đồng vượt qua túi đạn của địch, chuyển tới trận địa an toàn, đã là một thành công quan trọng. Trụ đứng được trận địa pháo cao xạ tại Đông Bắc Hồng Cúm với nhiệm vụ chủ yếu tiêu diệt máy bay C119 và Darkota tiếp quân và lương thực cho trung tâm Mường Thanh. Đơn vị phải tổ chức diệt tăng và bộ binh địch đánh nống ra chiếm trận địa ta. Đại đội phó lo phương án chiến đấu mặt đất, đại đội trưởng Lại Văn Đạm lo phương án chiến đấu triệt cắt đường không. Đặc biệt nghiên cứu loại máy bay vận tải hiện đại C119 của Mỹ. Trên mới cho biết những tính năng lý thuyết, còn những tham số xạ kích là những bài toán hóc búa phải vận dụng tùy tình huống. Từ 27-4-1954, qua nhiều trận, nhiều lần bắn máy bay chiến đấu (Bia cat. F8F) cán bộ chỉ huy kịp thời rút kinh nghiệm nên đã chộp đúng C119 nhả đạn trúng khoang chứa hàng. Trận đánh ngày 6-5-1954 là kết tinh nhiều yếu tố để đơn vị pháo cao xạ 816 tập trung trí tuệ bắn tiêu diệt được máy bay vận tải C119.
Nhân chứng Nguyễn Cần cùng với chính trị viên Vũ Tuấn Chuyển là người trực tiếp chỉ huy chặng hành quân cảm tử. Trận ngày 6-5, đại đội phó Nguyễn Cần chỉ huy đánh quân mặt đất cùng đứng trong sở chỉ huy nên chủ động quan sát diễn biến trận đánh. Nhân chứng là người trong cuộc, bám sát được quyết tâm của Đại đội trưởng và sự lãnh đạo của chính trị viên.
Khi kể về trận đánh, 3 lần thu hình ở 3 điểm, đại đội phó Nguyễn Cần và “Khẩu đội Nguyễn Thế Vinh” đã trả lời những ý của đạo diễn đã đạt được chủ đề kịch bản. Trên đường về, khi cách Sơn La gần 30km, đạo diễn yêu cầu bổ sung thêm để tổ quay lại ghi hình ảnh kể lại kỹ hơn nữa về tham số phần tử đạn bắn. Nghĩ rằng đạo diễn Douglas còn có ham muốn điều gì thêm, Đại tá Nguyễn Cần rút trong cặp đưa cho đạo diễn xem trang sách 380, dòng 8 từ trên xuống ở tập hồi ký “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”. Tác giả, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có ghi sự kiện ngày 6-5-1954. Một dòng thực sự có ý nghĩa “Pháo cao xạ bắn rơi thêm một chiếc C119”. Nhân chứng đưa tiếp một tờ giấy có ô kẻ quá mờ, giấy quá cũ, chữ viết rất nhỏ, mực nhòe. Đây là một trang nhật ký chiến đấu được lưu giữ mấy chục năm rồi, vừa làm kỷ niệm vừa là tư liệu viết bài của giáo viên phòng không. Trong nhật ký chiến đấu ghi rất rõ: Ngày 6-5-1954, C816 bắn rơi một C119, thực tế là hai chiếc, một rơi cách Điện Biên Phủ 120km, một chiếc về đến căn cứ thì đổ gục (cả hai bị trúng đạn).
Ngắm nghía trang giấy đục mờ, chữ ghi bằng mực màu xanh, thời gian đã làm nhòe ố nhưng nét chữ vẫn còn rõ từng nét. Đinh Hoàng Linh dịch câu nói của đạo diễn Douglas: “Tư liệu này quý lắm”. Tổ quay lại làm việc, ánh sáng trong cửa hàng không đủ, phải huy động các đèn pin, tập trung ánh sáng tụ lại trên trang giấy, quay đi quay lại, ống kính như nuốt từng chữ như một chứng cứ quan trọng. Nhìn qua ống kính, xem lại dòng chữ đã được in lên phim, nét mặt của đạo diễn Douglas vui hẳn lên. Đây cũng là hình ảnh cuối cùng, ống kính khép lại. Đoàn quay phim thực hiện nhiều đoạn đạo diễn bổ sung kịch bản làm phong phú thêm nội dung. Nhân chứng rất tâm đắc với đạo diễn, chỉ đạo quay nhiều góc độ quang cảnh nghĩa trang Điện Biên Phủ, dành nhiều thời lượng ghi lại hình ảnh đoàn làm phim viếng từng mộ liệt sĩ, bó hoa tươi được trân trọng đặt dưới lư hương tỏa khói nghĩa tình sâu lắng. Douglas dành nửa ngày tới Mường Phăng quay cảnh khu sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều đoạn quay ẩn chứa nhiều hàm súc, người ngoài chưa hiểu. Chúng tôi gọi đạo diễn với tên thân mật là anh Douglas. Anh là người Mỹ duy nhất, thay mặt nhà sản xuất kiêm đạo diễn thực hiện chương trình phim “Điện Biên Phủ”. Anh làm việc rất cần cù, có buổi làm việc mải mê không muốn ăn. Hàng ngày khi đêm về, ngồi một mình sử dụng máy truyền hình kiểm tra lại nội dung quay, phát hiện điểm chưa đạt để hôm sau quay bổ sung. Qua Đinh Hoàng Linh tôi hỏi đạo diễn mục đích chương trình phim. Douglas vui vẻ trả lời: “Dân Mỹ ít quan tâm tới lịch sử. Người Mỹ thường chỉ thích nhìn cuộc sống trước mắt. Làm người trong nghề sản xuất phim ảnh, chúng tôi tìm câu chuyện của hai phi công Mỹ mất tích trong lúc họ tham gia tiếp tế cho quân Pháp trong thung lũng Điện Biên Phủ Việt Nam 1954. Ngày 6-5-1954 là ngày một C119 bị bắn rơi. Hai phi công người Mỹ là Giêm Mắc Go-vơ và Oa-la Bin Phot bị mất tích theo máy bay của họ. Từ câu chuyện của họ chúng tôi muốn dùng phim tư liệu kết hợp với nhân chứng kể lại, kết nối một cách hài hòa làm sống lại trận chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam là một trong những trận chiến quan trọng nhất của thế kỷ 20 để giới thiệu trên kênh truyền hình Discovery. Chương trình phim đang tiến triển tốt. Sẽ có một ngày được phát trên sóng truyền hình”.
Về đến nhà, tôi vội ghi chép, muốn giới thiệu với mọi người về một người Mỹ làm phim Điện Biên Phủ nói về chiến thắng Điện Biên 1954, hy vọng nội dung phim được nhân dân thế giới hoan nghênh, nhân dân Mỹ sẽ hiểu rõ hơn một Điện Biên Phủ cách đây 50 năm và số phận của những người Mỹ đầu tiên trên đất Việt. Xin thay mặt tổ nhân chứng cám ơn anh Nguyễn Tuấn Ngọc-một lái xe rất thạo đường Tây Bắc, tháo vát chủ động chăm sóc rất thân tình và chu đáo các nhân chứng, đưa đón từng người đi tới nơi về tới chốn. Chúng tôi có nhiều kỷ niệm với nhau trên chặng đường hơn một ngàn cây số. Điều thú vị nhất là tham gia thắp sáng lên một sự kiện đã bị phủ kín nửa thế kỷ qua trong lúc chúng ta đang sôi động chào đón ngày 7-5-2004 kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ vô cùng huy hoàng của đất nước.
Hà Nội, ngày 1-3-2004