Người gắn bó một phần tư thế kỷ với dân tộc Chứt

Ông, bà Trần Văn Hiến
Ông, bà Trần Văn Hiến

Ông Phan Văn Đệ  - nguyên Bí thư Huyện ủy huyện Hương Khê tâm sự: “Ông Hiến lặng lẽ, hy sinh, gắn bó hết quãng đời tuổi trẻ cho đồng bào dân tộc Chứt”. Lên bản Rào Tre, người dân còn kể về những tháng năm ông Hiến cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt, đưa đồng bào Chứt ra khỏi bờ tuyệt chủng.

Năm 1958, huyện Hương Khê thành lập đoàn công tác đặc biệt gồm bốn người: ông Trần Văn Hiến, ông Nguyễn Xân - Chủ tịch xã Hương Liên, ông Nguyễn Huấn - Giáo viên tiểu học, ông Lạc - y tá xã Hương Lộc do ông Trần Văn Hiến làm tổ trưởng.

Ông Hiến nhớ lại: "Bốn anh em, nhận công lệnh, vai ba lô, cắt rừng, men theo suối Rào Tre, cứ theo phía Tây mà đi. Ngày đi, đêm mắc võng ngủ. Rừng âm u, muỗi, vắt không kể. Lần theo những dấu vết lối mòn, những cành cây rũ héo, những dấu chặt, vết đào, cuối cùng chúng tôi tìm được đến nơi ở của đồng bào dân tộc Chứt. Họ cư trú bên những gốc cây cổ thụ. Không nhà cửa, chỉ có những túp lều dựng tạm, lợp bằng lá nón. Có chín túp lều của 48 cư dân quần tụ dưới những gốc cây, cạnh dòng suối. Thấy chúng tôi, họ bỏ chạy thục mạng vào rừng sâu, bỏ lại dụng cụ chòng chét, niêu đất, vài con dao, mấy củ nâu, và những bếp lửa đang cháy đỏ. Họ không quần áo, che thân bằng vỏ cây hoặc lá rừng, nên chúng tôi gọi họ là những cư dân lá vàng là vì thế!".

- Thế phải mất bao lâu, tổ công tác của ông mới vận động được họ?

Ông Hiến chậm rãi:

- Tôi không nhớ nữa. Nhưng cũng phải mất một thời gian gần một tháng. Họ chạy. Chúng tôi dừng lại. Bốn anh em chặt cây, dựng nhà, kê đá làm bếp, kiên nhẫn, chờ đợi. Đặc biệt là chúng tôi không hề động chạm đến đồ vật, dụng cụ của họ. Sau đó, có người trở lại để lấy lửa. Đó là người đàn ông, da chum, vận vỏ cây, nói được tiếng Kinh lơ lớ, men theo cây rừng thoắt ẩn, thoắt hiện, bò vào bếp vác gộc củi đang cháy dở bỏ chạy. Phải vất vả, chúng tôi mới chặn bắt được anh ta.

Vận động mãi, cuối cùng, những cư dân Mã Liềng quay trở lại. Chúng tôi giúp họ dựng nhà sàn, san sẻ gạo, muối với họ. Trước đây họ không có muối mà đốt cây đùng đình, lấy tro thay muối. Ăn thì bằng củ leng, củ nâu, hoa chuối, săn bắt thú trong rừng, cá dưới khe. Họ sống hoang dã, như những bộ lạc lạc hậu nhất. Đây là những cư dân hỗn nhập từ Lào sang, từ Tuyên Hoá (Quảng Bình) ra. Họ không biết mình gốc Chứt, Rục, hay Lào, bản sắc văn hoá hầu như không có gì.

Tám năm, chúng tôi cùng ăn ở, sinh hoạt với họ. Rồi giúp họ dựng nhà, phát rẫy. Bốn anh em thay nhau về huyện mang gạo, thóc, mắm muối, dao rựa, quần áo, thuốc men, hạt giống. Thắng lợi nhất là chúng tôi trồng được ngô, sắn, lúa. Dân không đói, rồi nuôi lợn, gà. Cuộc sống dần dần thay đổi, dân vui lắm. Mà khi họ đã tin thì họ theo mình. Nhưng bốn anh em thì ba người đổ bệnh sốt rét. Ông Lạc bị vắt rừng cắn quá nhiều, nhiễm trùng phải về viện cắt ngón chân. Cuối cùng, chỉ còn một mình tôi cắm bản.

Ông Hiến tâm sự tiếp:

- Khổ nhất là rét. Rừng âm u, rét cắt da, cắt thịt. Đốt lửa tứ phía, vẫn băng giá. Tám năm không sách báo, không tết nhất, râu không cạo. Khi tôi về nhà, vợ con nhận không ra, cứ tưởng là người rừng. Mà đúng thành người rừng thật, mùi mồ hôi cũng mùi rừng - Nói xong, ông cười.

- Sức mạnh nào để ông có thể trụ lại với dân bản?

Ông Hiến thật thà: Tôi nghĩ một cách đơn giản: Trên giao nhiệm vụ, tôi gắng hoàn thành. Bốn anh em, chỉ còn mình tôi. Nếu lúc ấy, tôi bỏ cuộc thì công lao thành công cốc. Vả lại, đồng bào Chứt đã tin mình, họ quý lắm. Tôi còn nhớ lần bị ốm, họ đã vào rừng lấy lá thuốc, săn bắt thú nướng cho ăn. Họ quý mình lắm, nên không nỡ bỏ cuộc.

Trước thời kỳ vận động cách mạng, tôi đã được cử vào cắm bản để vận động bà con làm cách mạng, nên gian khổ đã quen rồi. Đến tháng 12 năm 1966, sau khi nghiên cứu tình hình có thể đưa dân bản trở ra xây dựng bản mới, huyện chủ trương đưa người Chứt nhập với bản Giàng ở Hương Vĩnh. Sau một thời gian chung sống, hai bản mâu thuẫn, bắt đầu từ việc không chịu nhau dùng nước suối trên và suối dưới, nên năm 1975, buộc phải tách hai bản. Người Chứt đưa về định cư tại bản Rào Tre, xã Hương Liên hiện nay. Đây cũng là một giai đoạn vô cùng khó khăn. Tôi được cấp trên giao nhiệm vụ tiếp tục giúp dân bản ổn định cuộc sống. Từ rừng ra, lại bắt đầu dựng nhà, vỡ hoang. Cái khó nhất là giúp đồng bào trồng lúa nước.

Kỷ niệm thì có nhiều, nhưng đáng nhớ nhất là tôi đã tìm hiểu, mạnh dạn đề xuất đắp đập khe Lấp ở rú Cà Đay, lấy nước cho bà con sinh hoạt và trồng lúa nước. Công việc đắp đập được bà con dân tộc Chứt ủng hộ. Họ vào rừng, đốn gỗ lim, vạt nhọn, chắn khe, đào núi, khuân đất đắp đập. Không có thể tính hết được bao nhiêu công sức, nước mắt, mồ hôi. Khi lòng dân thuận thì không khó khăn nào không vượt qua… Tôi ở bản Rào Tre đến năm 1988 thì về hưu. Coi như hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng giao phó.

"Tôi hoàn thành nhiệm vụ được cũng là nhờ vợ tôi", ông kể. Vợ ông là bà Nguyễn Thị Con. Những năm chồng công tác xa, một mình bà sản xuất, chăn nuôi, dạy con, chăm sóc cha mẹ chồng mà không có một tiếng phàn nàn. Sáu đứa con được bà nuôi ăn học chu tất, bây giờ đã có nghề nghiệp, gia thất. Phải đến cuối đời, khi nghỉ hưu, ông bà mới được sống bên nhau hạnh phúc. Một ngôi nhà giản dị, một cuộc sống thanh bạch, quấn quít cháu con, với tình làng nghĩa xóm. Tuổi 90, ông Hiến còn thông tỏ, bà Con vẫn còn chợ búa, lợn gà, bếp núc.

Bà Con còn nhớ vào năm 1972 , cả xã Hương Đô hơn một trăm người chết vì bom Mỹ, trong đó có bố chồng. Bà không thể nào quên được một ngày tang tóc ấy: "Máy bay cháy, phi công Mỹ nhảy dù xuống đồng làng. Dân quân bắt phi công Mỹ giải đi. Ông phó chủ tịch xã Hương Đô nhặt được điện đài phi công đang phát tín hiệu, không biết tắt đài, tiêu huỷ, mà cầm ở tay. Máy bay Mỹ đến quần đảo trên bầu trời Hương Đô thả bom xuống. Lúc ấy, bố chồng đang ở trong hầm với cháu, nhảy ra, lấy rìu bửa củi để đi đập đài. Vừa ra khỏi sân, vướng mìn, thân thể tan nát. Đứa con thứ hai của tui ra ôm ông nội cũng vướng bom, bị thương... Đó là một ngày khủng khiếp. Tui lo chôn cất cho cha, lo cho con bị thương. Lúc ấy, ông nhà tui đang ở bản Rào Tre, khung (không) tin tức chi được. Một tháng sau, ông mới về. Nhà cửa tan hoang, con bị thương, cha chết khung gặp được. Nhà tui rất đau buồn, nhưng tui động viên trở lại bản hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Được cái bà con dân tộc Chứt cũng quý. Cứ Tết là họ về nhà tui ăn Tết. Đó cũng là một nguồn an ủi".

Có thể bạn quan tâm