Ngoại tệ, nguồn ngoại lực quan trọng

Ngoại tệ, nguồn ngoại lực quan trọng

Khái quát thực tiễn có thể thấy nguồn ngoại tệ tiền mặt ở nước ta không ngừng tăng nhanh bởi các nguyên nhân sau đây: 

Tám kênh ngoại tệ chuyển vào 

Thứ nhất là nguồn kiều hối, với mức tăng bình quân trên 10% mỗi năm. Nếu như năm 1991 kiều hối chuyển về đất nước mới đạt 31 triệu USD, thì đến năm 1995 đạt 284,96 triệu USD, năm 1999 đạt 1.200 triệu USD, năm 2000 đạt 1.757 triệu USD, năm 2001 đạt 1.820 triệu USD, năm 2002 đạt 2.154 triệu USD, năm 2003 đạt 2.580 triệu USD và năm 2004 ước tính đạt 3,0 tỷ USD. Đó là con số thống kê được, chưa kể kiều hối chuyển lậu, ngoại tệ người Việt Nam nhập cảnh không khai báo,... Với xu hướng này, dự đoán đến năm 2010, lượng kiều hối vào Việt Nam sẽ đạt gần 5,0 tỷ USD.  

Thứ hai là, số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng nhanh, nếu như năm 1996 mới đạt 1.607,2 nghìn lượt người, năm 2000 đã là 2.140,1 nghìn lượt người, năm 2003 đạt 2.439,1 nghìn lượt người, năm 2004 ước tính đạt 2,927 triệu lượt người. Dự báo năm 2005 sẽ là 3,4 triệu lượt và năm 2010 sẽ đạt khoảng gần 5,0 triệu lượt người. Khách quốc tế chi tiêu một lượng tiền mặt ngoại tệ rất lớn tại Việt Nam. 

Thứ ba là, tiền lương và thu nhập của người Việt Nam làm việc trong các dự án liên doanh, dự án 100% vốn nước ngoài, dự án quốc tế, cơ quan nước ngoài ở Việt Nam, được trả bằng ngoại tệ. 

Thứ tư là, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, sinh sống, làm ăn, học tập... ngày càng tăng, chi tiêu ngoại tệ tiền mặt rất lớn, nhất là tiền thuê nhà của các hộ gia đình người Việt Nam và chi trả các dịch vụ khác. 

Thứ năm là, tiền viện trợ không hoàn lại, tiền của các tổ chức tài chính vi mô, tổ chức từ thiện quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài... Bên cạnh đó là nguồn vốn tài trợ của các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, Chính phủ các nước. Năm 2005 số vốn cam kết tài trợ (ODA) lên tới 3,44 tỷ USD, so với 2,7 tỷ USD năm 2003. 

Thứ sáu là, ngoại tệ từ các hoạt động buôn lậu và một số nguồn ngoại tệ qua các hoạt động kinh tế ngầm khác. 

Thứ bảy là, hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng trưởng khá. Chỉ riêng năm 2004, Việt Nam thu hút được khoảng hơn 4,1 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng khoảng 35%, tương ứng với khoảng 1,2 tỷ USD so với năm 2003 là 2,9 tỷ USD. Riêng vốn đầu tư thực hiện của năm 2004 đạt 2,85 tỷ USD. Trong năm 2004, có 679 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, với số vốn đăng ký 2,08 tỷ USD, cộng với số vốn đăng ký tăng thêm của các dự án đang hoạt động là hơn 2,0 tỷ USD, tổng cộng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong năm qua là 4,1 tỷ USD. Tính đến nay trong cả nước có gần 5.000 dự án trực tiếp đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng số vốn đăng ký là 45,5 tỷ USD, trong đó có 26,3 tỷ USD đã được thực hiện. Chỉ riêng trong ba năm gần đây có gần 2.000 dự án tăng thêm, số vốn đăng ký tăng thêm là 7,6 tỷ USD và số vốn thực hiện tăng thêm hơn 7,5 tỷ USD. 

Thứ tám là, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng ngày càng tăng nhanh. Kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2004 ước tính đạt 26 tỷ USD, tăng gần 29% so với năm 2003, có 17 mặt hàng vượt kim ngạch xuất khẩu 100 triệu USD; sáu mặt hàng vượt 1,0 tỷ USD: dầu thô, dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ, điện và linh kiện điện tử. 

Biện pháp quản lý, thu hút tiền mặt?

Nguồn vốn bên ngoài nói chung, vốn ngoại tệ tiền mặt nói riêng là rất quan trọng đối với đất nước, nếu thu hút tối đa vào hệ thống ngân hàng đầu tư có hiệu quả cho các dự án trọng điểm, quan trọng của quốc gia, cũng như của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế và tạo số đông việc làm cho người lao động.  Thực hiện được mục tiêu như vậy, thì hạn chế tối đa được ngoại tệ tiền mặt trôi nổi, hạn chế tình trạng đô-la hóa nền kinh tế, nhưng mâu thuẫn nảy sinh là đô-la hóa nguồn vốn huy động và đô-la hóa cơ cấu dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng.  

Đứng trên giác độ điều hành chính sách tiền tệ và quản lý vĩ mô nền kinh tế, lượng ngoại tệ tiền mặt lớn lưu thông trong nền kinh tế, khi được sử dụng làm phương tiện thanh toán thì Ngân hàng trung ương khó có thể kiểm soát được, nhưng khi chuyển đổi sang Đồng Việt Nam thì gây sức ép lên nội tệ. Bởi vì, nó tạo sức ép cho Ngân hàng Nhà nước phải cung ứng Đồng Việt Nam ra lưu thông, giới hạn của việc thu hút ngoại tệ vào quỹ dự trữ. Nghiệp vụ này bị khống chế bởi kế hoạch cung ứng tiền ra lưu thông hàng năm, bị khống chế bởi giới hạn quỹ dự trữ ngoại tệ của Nhà nước, cũng như một số vấn đề khác trong điều hành chính sách tiền tệ. 

Bởi vậy, đây là vấn đề cần được xử lý linh hoạt sao cho thu hút được vốn ngoại tệ tiền mặt trong dân vào hệ thống ngân hàng, nhất là tới đây Cục dự trữ Liên bang Mỹ có khả năng tiếp tục tăng lãi suất chủ đạo đồng USD, làm cho mặt bằng lãi suất huy động vốn USD trong nước về nguyên lý sẽ tăng lên. Trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng tiếp tục tăng cao, người dân sẽ gửi USD vào ngân hàng nhiều hơn.

Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, vấn đề đô-la hóa không thể một sớm một chiều khắc phục cơ bản được. Vì vậy cần tính đến những khía cạnh khác nhau của nền kinh tế, cần được nhận thức chung trong dư luận và tính toán nhiều chiều hơn trong điều hành vĩ mô, trong khi chủ trương là tạm thời chưa phát hành trái phiếu ngoại tệ trong và ngoài nước cho đầu tư các dự án trọng điểm của quốc gia do lo ngại tình trạng Đôla hóa.   

Tới đây nhiều dự án lớn về lọc hóa dầu, về khí đốt, về phân đạm, điện lực, hàng không, máy bay, khai thác than, xi măng,.... cần số vốn ngoại tệ không nhỏ để nhập khẩu thiết bị của nước ngoài cho thực hiện tiến độ dự án. Trong khi đó, nguồn ngoại tệ tiền mặt vào nhiều, tâm lý cất trữ và để dành bằng ngoại tệ vẫn còn lớn, cần được huy động trong đầu tư. Bên cạnh đó, kiên trì thực hiện mục tiêu ổn định tỷ giá, ổn định giá trị Đồng Việt Nam, tăng mệnh giá Đồng Việt Nam, kiểm soát chặt chẽ quy định cấm bán hàng và dịch vụ trong nước niêm yết giá và thu bằng ngoại tệ,... là các biện pháp quan trọng để giảm tình trạng đô-la hóa trong xã hội. 

Trong lúc ngoại tệ tiền mặt vào nước ta không ngừng tăng nhanh, thì tối ưu hơn cả là nên triển khai phát hành trái phiếu, thu hút vốn ngoại tệ tiền mặt, hơn là để ngoại tệ tiền mặt trôi nổi không quản lý được, thay cho việc đi vay vốn nước ngoài, chịu rủi ro về tỷ giá, có khi phải nhập khẩu máy móc thiết bị theo chỉ định của bên cho vay, chịu thiệt thòi về giá cả và những thiệt hại khác, làm gia tăng gánh nặng vay nợ nước ngoài của Việt Nam. Đó là những vấn đề thực tế cần được cân nhắc trong điều hành vĩ mô nền kinh tế.

Có thể bạn quan tâm