ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV VÀO CUỘC SỐNG:

Để tự chủ trở thành động lực phát triển

Nhiều năm qua, giáo dục đại học Việt Nam liên tục đặt ra yêu cầu đổi mới để theo kịp nhu cầu nhân lực và tốc độ phát triển công nghệ. Đó cũng là lý do định hướng “tăng quyền tự chủ đại học, hiện đại hóa giáo dục đại học và phát triển một số trường đạt chuẩn quốc tế” được đặt ra trong các văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Phòng lab được trang thiết bị hiện đại phục vụ sinh viên nghiên cứu khoa học tại Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội).
Phòng lab được trang thiết bị hiện đại phục vụ sinh viên nghiên cứu khoa học tại Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội).

Những chuyển động tất yếu

Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, mô hình đại học nghiên cứu được thúc đẩy mạnh hơn sau khi thực hiện tự chủ. Nhà trường liên tục mở các ngành mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, kỹ thuật bán dẫn hay an ninh mạng; đồng thời đầu tư mạnh cho hệ thống phòng thí nghiệm và trung tâm đổi mới sáng tạo. Theo định hướng phát triển đến năm 2030, trường dự kiến đầu tư mới 30 phòng thí nghiệm đào tạo và 30 phòng thí nghiệm nghiên cứu trong các ngành công nghệ chiến lược.

Hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cũng ghi nhận nhiều chuyển biến. Những năm gần đây, Đại học Bách khoa Hà Nội duy trì khoảng 1.500-1.600 bài báo quốc tế mỗi năm, nằm trong nhóm các cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế cao nhất cả nước. Nguồn thu từ khoa học-công nghệ của trường năm 2024 (công bố vào cuối năm 2025) đạt hơn 101 tỷ đồng; tổng thu toàn trường vượt 1.500 tỷ đồng, quy mô người học gần 44.000 người (mức cao nhất trong 5 năm gần đây).

PGS, TS Huỳnh Quyết Thắng, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, điều cốt lõi của tự chủ là tạo động lực đổi mới toàn diện cho cơ sở đào tạo, giúp đội ngũ giảng viên có điều kiện phát huy năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Trong khi đó, Đại học Kinh tế Quốc dân tận dụng cơ chế tự chủ để đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gắn sát thị trường lao động. Những ngành học như kinh doanh số, fintech, thương mại điện tử, phân tích dữ liệu kinh doanh được mở khá sớm. Nhà trường cũng tăng các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, mở rộng hợp tác quốc tế và kết nối doanh nghiệp trong đào tạo thực hành.

Còn tại Trường đại học Ngoại thương, tự chủ giúp trường linh hoạt hơn trong tuyển dụng nhân sự chất lượng cao, phát triển chương trình liên kết quốc tế và thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp trong sinh viên. Những năm gần đây, trường chú trọng các lĩnh vực mới như logistics quốc tế, kinh tế số, kinh doanh bền vững; nhiều nhóm sinh viên khởi nghiệp đã đoạt giải trong và ngoài nước.

Không chỉ ở các trường lớn, mô hình hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp cũng đang phổ biến hơn. Một số doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo, cử chuyên gia giảng dạy hoặc phối hợp nghiên cứu. Ở góc độ quản trị, nhiều trường cũng chuyển mạnh sang mô hình điều hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Những chuyển động này chưa tạo ra thay đổi đồng đều trên toàn hệ thống, nhưng cho thấy tự chủ đang tạo ra áp lực đổi mới rõ rệt.

Từ năm 2026, tự chủ đại học bước sang giai đoạn mới khi quyền tự chủ về học thuật, tổ chức và tài chính được mở rộng hơn theo Luật Giáo dục đại học sửa đổi. Điều đó cho thấy tự chủ đại học đang dần chuyển từ cơ chế thí điểm sang cách vận hành phổ biến của hệ thống.

Để trường đại học trở thành các trung tâm sáng tạo

Sau những chuyển động tích cực, nhiều vướng mắc của quá trình tự chủ cũng dần lộ rõ. Ở không ít nơi, tự chủ mới dừng ở khía cạnh tài chính, trong khi quyền quyết định về tổ chức bộ máy hay nhân sự vẫn còn vướng quy định khác nhau giữa các luật. Một số trường được giao tự chủ nhưng vẫn chịu ràng buộc như đơn vị hành chính sự nghiệp thông thường khi đầu tư công, quản lý tài sản hay tuyển dụng nhân sự.

Có trường phải “tự chủ chi thường xuyên”, nhưng học phí lại bị khống chế, trong khi chưa có cơ chế đủ mạnh để huy động nguồn lực xã hội hóa hoặc phát triển quỹ đại học. Nhiều trường vì thế phải xoay xở rất chật vật về nguồn thu. Tự chủ cũng làm khoảng cách giữa các trường có xu hướng giãn rộng hơn. Những trường có thương hiệu mạnh, ở đô thị lớn thường dễ tuyển sinh, thu hút giảng viên và doanh nghiệp hơn. Trong khi đó, nhiều trường địa phương gặp khó trong tuyển sinh và giữ chân nhân lực chất lượng cao.

Một vấn đề khác là năng lực quản trị đại học chưa theo kịp yêu cầu mới. Không ít cơ sở giáo dục vẫn quen vận hành theo tư duy hành chính, trong khi tự chủ đòi hỏi năng lực quản trị chiến lược, quản trị tài chính, quản trị dữ liệu và phát triển thương hiệu học thuật. Thực tế cho thấy, trao quyền thôi chưa đủ. Nếu thiếu cơ chế giám sát minh bạch và đội ngũ quản trị chuyên nghiệp, tự chủ có thể bị hiểu lệch thành tăng học phí hoặc chạy theo ngành “hot” để tăng nguồn thu.

Theo TS Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT), một trong những bất cập hiện nay là nhiều trường được giao tự chủ nhưng chưa được tháo gỡ đồng bộ về đầu tư công, tài sản công và cơ chế nhân sự. Điều này khiến không ít cơ sở giáo dục rơi vào tình trạng “nửa tự chủ, nửa hành chính”, khó phát huy hết động lực đổi mới.

Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhiều lần nhấn mạnh rằng, tự chủ không phải “khoán trắng” cho các trường, mà nhằm tạo động lực nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và năng lực cạnh tranh quốc tế. Theo ông, tự chủ phải đi cùng trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng và minh bạch quản trị, tránh cách hiểu giản đơn rằng, tự chủ chỉ là tự chủ tài chính.

Trong định hướng của Đại hội XIV, tự chủ đại học gắn liền với hiện đại hóa giáo dục đại học. Điều đó cho thấy đổi mới không chỉ nằm ở cơ chế vận hành, mà còn ở mô hình đào tạo và năng lực sáng tạo tri thức.

Không ít giảng viên thừa nhận tốc độ thay đổi công nghệ hiện nay khiến giáo trình có thể lạc hậu chỉ sau vài năm, thậm chí vài tháng ở một số lĩnh vực công nghệ số. Bộ trưởng GD&ĐT Hoàng Minh Sơn từng nhận định rằng, giáo dục đại học Việt Nam phải chuyển mạnh sang mô hình đại học số, đại học đổi mới sáng tạo và đào tạo liên ngành. Theo ông, trường đại học không thể tiếp tục dạy theo lối “truyền thụ một chiều”, bởi nhiều kiến thức hôm nay có thể nhanh chóng lạc hậu chỉ sau vài năm. Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo phải linh hoạt hơn, cập nhật nhanh hơn và gắn chặt hơn với khoa học-công nghệ.

Tuy nhiên, để hiện đại hóa thật sự, các trường cần nguồn đầu tư lớn cho hạ tầng số, phòng thí nghiệm, dữ liệu học thuật và đội ngũ giảng viên nghiên cứu. Nếu chỉ dừng ở truyền đạt kiến thức, đại học sẽ khó cạnh tranh trong thời đại công nghệ thay đổi quá nhanh. Đây vẫn là khoảng cách lớn giữa nhiều trường đại học Việt Nam với các đại học hàng đầu thế giới hiện nay.

Một trong những mục tiêu đáng chú ý trong định hướng của Đại hội XIV là phát triển một số trường đạt chuẩn quốc tế. Đây không đơn thuần là câu chuyện thứ hạng hay thương hiệu. Mục tiêu sâu xa là hình thành các trung tâm nghiên cứu đủ sức cạnh tranh trong khu vực. Theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, muốn có đại học đạt chuẩn quốc tế thì không thể phát triển dàn trải. Điều cần là cơ chế đầu tư trọng điểm, chính sách đủ mạnh để thu hút nhà khoa học giỏi và môi trường học thuật thật sự cởi mở.

Thực tế cho thấy, một trường đại học đẳng cấp quốc tế không chỉ được đo bằng cơ sở vật chất mà là chất lượng nghiên cứu, năng lực công bố quốc tế, khả năng thu hút giảng viên và sinh viên toàn cầu, cũng như mức độ đóng góp cho đổi mới sáng tạo quốc gia. Muốn làm được điều đó, nhiều chuyên gia cho rằng, phải tháo gỡ đồng thời nhiều nút thắt: Từ cơ chế tài chính, đặt hàng nghiên cứu đến chính sách giữ chân nhà khoa học giỏi.

Từ thực tế triển khai tự chủ, PGS, TS Huỳnh Quyết Thắng, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, muốn đại học đổi mới mạnh thì phải có cơ chế đủ linh hoạt để trường chủ động đầu tư cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược, thu hút nhà khoa học giỏi và hợp tác sâu với doanh nghiệp. Theo ông, nếu quyền tự chủ vẫn bị chia cắt giữa nhiều quy định khác nhau thì rất khó hình thành các đại học nghiên cứu mạnh hay trung tâm đổi mới sáng tạo đúng nghĩa.

Theo nhiều chuyên gia, để tinh thần tự chủ đại học trong văn kiện Đại hội XIV thật sự đi vào cuộc sống, các trường không chỉ cần được trao quyền thực chất mà còn phải chịu áp lực công khai chất lượng đào tạo, hiệu quả nghiên cứu và khả năng cạnh tranh. Khi đó, tự chủ mới trở thành động lực đổi mới thay vì chỉ là bài toán tài chính.