Việt Nam có nguồn dược liệu phong phú, nhiều nông sản đặc hữu và những ngành hàng đã tạo được vị thế trên thị trường quốc tế. Việc ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng này có thể mở ra dư địa tăng trưởng mới, nhưng cũng đặt ra những yêu cầu khắt khe về vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển dữ liệu.
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết một năm rưỡi triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khoa học công nghệ không ở đâu xa, mà nằm ngay trong con tôm, cây lúa, hạt gạo, sản phẩm OCOP. Theo Tổng Bí thư, những kết quả bước đầu tại các địa phương cho thấy Nghị quyết 57-NQ/TW đã bắt đầu đi vào những bài toán cụ thể của sản xuất và đời sống.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đồng thời chỉ rõ giai đoạn tới phải chuyển mạnh từ xây dựng cơ chế sang tạo ra sản phẩm, từ hoàn thành nhiệm vụ sang tạo ra giá trị. Nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được.
Yêu cầu này đang được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong từng ngành. Theo Quyết định số 808/QĐ-TTg về phát triển công nghệ chiến lược của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì 3 nhiệm vụ trọng tâm về khoa học công nghệ bao gồm: phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới bằng công nghệ gene, tế bào và công nghệ sinh học; làm chủ vắc xin thú y thế hệ mới, chế phẩm sinh học và sinh phẩm nông nghiệp; xây dựng và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản.
Dư địa mới từ những lợi thế bản địa
Một hướng đi có nhiều tiềm năng là ứng dụng khoa học, công nghệ vào nhóm dược liệu, nông sản đặc trưng gắn với nhu cầu dinh dưỡng, làm đẹp và chăm sóc sức khỏe. Theo thống kê của ngành Y tế, Việt Nam có hơn 5.000 loài cây thuốc, trong đó nhiều loài gắn với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và tri thức bản địa của từng vùng (Nguồn: Cục Quản lý Y dược cổ truyền - Bộ Y tế, qua Sản phẩm thiên nhiên).
Bên cạnh dược liệu, một số nông sản như sâm, dược liệu, quế, hồi, tỏi... đang được phát triển thành các sản phẩm phục vụ nhu cầu dinh dưỡng, làm đẹp, chăm sóc sức khỏe nhờ hàm lượng cao các hoạt chất có lợi cho sức khỏe. Đây cũng là xu hướng tiêu dùng "thực phẩm là thuốc" (food as medicine) đang phổ biến toàn cầu. Theo IndexBox, thị trường siêu thực phẩm thế giới đang chuyển từ phân khúc ngách sang dòng sản phẩm tiêu dùng phổ biến, với tốc độ tăng trưởng kép dự báo khoảng 7,2%/năm giai đoạn 2026-2035 (Nguồn: IndexBox); riêng tại Việt Nam, theo IMARC Group, tốc độ này còn cao hơn, khoảng 9,15%/năm giai đoạn 2026-2034 (Nguồn: IMARC Group).
Muốn khai thác cơ hội, nguyên liệu phải có chất lượng ổn định, đáp ứng yêu cầu an toàn và phù hợp với nhu cầu của từng dòng sản phẩm. Nếu được tổ chức sản xuất bài bản, xây dựng vùng trồng đạt chuẩn, phát triển chế biến sâu và ứng dụng khoa học công nghệ, các sản phẩm nông sản đặc hữu hoàn toàn có thể trở thành một thị trường lớn, mang lại thu nhập cao cho người nông dân.
Theo nhóm nghiên cứu đến từ Viện Công nghệ Thông tin Ấn Độ Allahabad, mô hình AI có thể dựa trên hình ảnh lá cây cùng dữ liệu về độ ẩm đất, nhiệt độ, độ ẩm không khí và thời tiết để hỗ trợ phát hiện sớm dấu hiệu bệnh của cây (Nguồn). Sau thu hoạch, nhóm nghiên cứu đến từ Viện Công nghệ Thực phẩm, Khởi nghiệp và Quản lý Quốc gia Ấn Độ cùng các trường đại học cho biết AI có thể phân tích hình ảnh trái cây và dữ liệu thu từ camera, cảm biến để hỗ trợ đánh giá chất lượng, phát hiện lỗi, phân loại sản phẩm, dự báo độ chín và thời gian bảo quản của trái cây (nguồn). Qua đó, nông sản có thể được phân loại và định giá phù hợp hơn, góp phần nâng giá trị sản phẩm và tăng thu nhập cho người dân tại vùng trồng.
Những bước tiến đầu tiên
Nhiều địa phương đang lựa chọn những bài toán cụ thể, phù hợp với lợi thế và nhu cầu phát triển của mình để ứng dụng khoa học, công nghệ. Tại Quảng Trị, một số quy trình công nghệ sinh học từng bước được làm chủ và đưa vàophát triển sản phẩm OCOP.
Ở Lào Cai, dự án số hóa gần 1.000 loài cây thuốc đang được triển khai, hướng tới xây dựng dữ liệu dược liệu, xác định vùng nguyên liệu và lựa chọn các nhóm sản phẩm chiến lược gắn với chế biến sâu, thương mại hóa và xuất khẩu.
Tại Điện Biên, thiết bị bay không người lái (UAV) đang được thử nghiệm trên các vùng chè Sính Phình, cà-phê Mường Ảng, mắc-ca Tuần Giáo và lúa Thanh Nưa. Từ tháng 6/2026 đến hết tháng 5/2027, tỉnh đặt mục tiêu thực hiện khoảng 6.000 chuyến bay để gieo hạt, phun thuốc, giám sát sinh trưởng và vận chuyển nông sản. Vietnam Post chủ trì vận hành thử nghiệm, FPT cùng các đơn vị sản xuất UAV cung cấp giải pháp kỹ thuật, còn hợp tác xã và người dân địa phương là bên trực tiếp đánh giá hiệu quả.
Ở khâu sau thu hoạch, trí tuệ nhân tạo (AI) đã được thử nghiệm để đánh giá chất lượng nông sản. Tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo công nghệ cao thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Bùi Quang Minh chủ trì đã xây dựng cơ sở dữ liệu gồm 14.411 hình ảnh xoài và thanh long ở các mức chất lượng khác nhau. Mỗi nhóm hình ảnh được gắn nhãn, kết hợp với kết quả phân tích hóa lý để huấn luyện và kiểm thử mô hình AI.
Phần mềm sau đó có thể nhận diện, đánh giá và cảnh báo chất lượng với độ chính xác hơn 90%. Các mô hình học sâu kết hợp xử lý hình ảnh có thể hỗ trợ phát hiện, phân loại và đánh giá chất lượng sản phẩm. Khi tích hợp công nghệ quang học siêu phổ, hệ thống còn có thể phân tích tín hiệu liên quan đến độ ẩm, thành phần và chất lượng bên trong mà không phải phá hủy mẫu.
Cùng với trồng trọt, AI đang được đưa vào chuỗi chăn nuôi và chế biến thực phẩm để phát hiện sớm rủi ro, kiểm soát nguyên liệu và theo dõi quy trình sản xuất. Tập đoàn FPT đang hợp tác với một tập đoàn lớn của Thái Lan trong lĩnh vực nông nghiệp - thực phẩm để đưa AI vào nhiều khâu của chuỗi sản xuất tại Việt Nam, từ tư vấn dịch bệnh cho người chăn nuôi đến camera giám sát trang trại đến hỗ trợ kiểm tra chất lượng nguyên liệu bằng hình ảnh.
Đối với người dân Việt Nam, việc ứng dụng AI sẽ hỗ trợ phát hiện sớm rủi ro trong chăn nuôi, tăng khả năng kiểm soát chất lượng và nguồn gốc thực phẩm, đồng thời tối ưu nguyên liệu, năng lượng và chi phí sản xuất. Người dân cũng có cơ hội tiếp cận các công cụ tư vấn số và mô hình quản lý trang trại dựa trên dữ liệu, từ đó góp phần hình thành chuỗi giá trị hiện đại, minh bạch và bền vững hơn, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Thách thức từ vùng nguyên liệu đến dữ liệu
Thách thức, tuy nhiên, không chỉ nằm ở công nghệ. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thiếu hụt và phân tán dữ liệu đang là một trong những điểm nghẽn lớn của chuyển đổi số nông nghiệp. Nhiều dữ liệu chuyên ngành chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông và chưa được cập nhật thường xuyên.
Ông Lê Phú Hà - Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết yêu cầu đặt ra đối với dữ liệu chuyên ngành là phải bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, nghĩa là chính xác, đầy đủ, thường xuyên được cập nhật và có khả năng chia sẻ giữa các hệ thống. Đây là nền tảng cần thiết để AI có thể hỗ trợ nông nghiệp thông minh, giám sát môi trường và ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Chi phí đầu tư thiết bị, phần mềm, lưu trữ dữ liệu, bảo trì và đào tạo nhân lực cũng là rào cản, nhất là với các hộ và cơ sở sản xuất quy mô nhỏ. Điều đó cho thấy, bài toán của Việt Nam không còn chỉ là tiếp cận công nghệ, mà là xây dựng được một hệ sinh thái để công nghệ có thể được kiểm chứng, hoàn thiện và tạo ra giá trị. Vấn đề tiếp theo là bắt đầu từ đâu, lựa chọn sản phẩm nào, thử nghiệm và hiệu quả cần được đo bằng những chỉ số nào. Đây cũng là những điều kiện quyết định liệu AI có thể đi từ phòng nghiên cứu đến vùng trồng, cơ sở chế biến và thị trường hay không.
(Còn tiếp)