Chuyển động

Nghịch lý ở quốc gia siêu già

Nhật Bản đang trải qua thời kỳ dân số giảm và lực lượng lao động già. Tuy nhiên, trong lúc đất nước này cần thu hút người nước ngoài để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, không ít người dân lại cảm thấy “khó chịu” với sự hiện diện của họ.

Lễ hội hoa anh đào ở Fujiyoshida năm 2026 bị hủy bỏ vì tình trạng quá tải du khách. Ảnh trong bài | Nguồn từ báo nước ngoài
Lễ hội hoa anh đào ở Fujiyoshida năm 2026 bị hủy bỏ vì tình trạng quá tải du khách. Ảnh trong bài | Nguồn từ báo nước ngoài

Từ làn sóng dân tộc chủ nghĩa

Nikki Maruschak từ Canada đến Nhật Bản vào năm 2019 và coi đây là nơi mình có thể xây dựng cuộc sống. Gần đây, cô cảm thấy mình không được chào đón bởi khi đi bộ trên đường, cô đã trải nghiệm sự gia tăng của “butsukari”- ai đó cố tình va chạm hoặc xô đẩy người khác ở nơi công cộng. Nikki chia sẻ: “Nhiều lần ở ga tàu hoặc nơi công cộng, có người va vào tôi tỏ ra khó chịu và bảo tôi hãy quay về nước”.

Sự thay đổi này diễn ra khi làn sóng dân tộc chủ nghĩa nổi lên và ngày càng được nhiều người ủng hộ. Một cuộc khảo sát với 1.500 người Nhật Bản trong toàn quốc đã được tiến hành ngay sau cuộc bầu cử Hạ viện vào tháng 2/2026. Kết quả gần 2/3 số người được hỏi ủng hộ cả việc siết chặt quy định đối với việc mua đất của người nước ngoài và kỳ vọng người nước ngoài tuân thủ luật lệ và phong tục của Nhật Bản.

Từ năm 2025, Đảng dân túy cực hữu Sanseito của Nhật Bản giành được 15 ghế tại Thượng viện và 15 ghế tại Hạ viện dựa trên cương lĩnh “Nhật Bản trên hết”. Trong cuộc bầu cử Hạ viện năm 2026, Đảng Dân chủ Tự do (LDP) dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Sanae Takaichi, đã giành chiến thắng vang dội trong khi thắt chặt lập trường về chính sách nhập cư.

GS Tetsuro Kobayashi, Trường Khoa học Chính trị và Kinh tế, Đại học Waseda ở Tokyo cho biết, sự thành công của Đảng Sanseito đã thúc đẩy Thủ tướng Sanae Takaichi có lập trường cứng rắn hơn đối với vấn đề nhập cư. Điều này bao gồm các yêu cầu khắt khe hơn đối với chủ sở hữu bất động sản là người nước ngoài, chi phí thị thực cao hơn và giới hạn số lượng người nước ngoài cư trú tại Nhật Bản.

Tuy nhiên tâm lý này lại đi ngược lại thực tế rằng Nhật Bản là một quốc gia đang già hóa nhanh chóng, với tỷ lệ sinh giảm mạnh. Viện Nghiên cứu hòa bình và phát triển Ogata Sadako thuộc Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản ước tính rằng đất nước này sẽ cần 6,74 triệu lao động nước ngoài vào năm 2040 để duy trì tăng trưởng kinh tế. Năm 2025, tỷ lệ sinh đạt mức thấp kỷ lục, với chỉ 1,14 ca sinh trên mỗi phụ nữ, thấp hơn nhiều so với mức 2,1 ca sinh trên mỗi phụ nữ cần thiết để duy trì dân số, theo Bộ Y tế.

Người nước ngoài chiếm khoảng 3% tổng dân số Nhật Bản. Các nhóm người di cư lớn nhất đến từ Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc và Philippines. GS Kobayashi cho biết ở Nhật Bản, tâm lý “bài ngoại” có lẽ xuất phát từ những mối lo ngoại về văn hóa nhiều hơn là cạnh tranh về kinh tế, việc làm.

57-2.jpg
Nhật Bản đang siết chặt quy định với lao động nước ngoài.

Đến các quy định siết chặt quản lý người nhập cư

Cuối năm 2025, Đảng Dân chủ Tự do cầm quyền đã đưa ra các quy định mới về thị thực quản lý kinh doanh trong bối cảnh một số người Nhật phàn nàn về tình trạng quá tải du lịch và giá đất tăng vọt - một phần do đầu tư nước ngoài - thúc đẩy Thủ tướng Sanae Takaichi siết chặt các quy định đối với công dân nước ngoài.

Nhật Bản đã thay đổi quy định về visa quản lý doanh nghiệp, loại visa hiện đang được hơn 46 nghìn người nước ngoài sở hữu tính đến cuối năm 2025 (tăng 70% so với năm 2020). Những thay đổi này bao gồm việc tăng đáng kể yêu cầu về vốn, từ 5 triệu yên (31.300 USD) lên ít nhất 30 triệu yên, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp phải thuê một nhân viên người Nhật hoặc người có tư cách cư trú dài hạn làm việc toàn thời gian. Yêu cầu về vốn này khiến hầu hết các doanh nghiệp Nhật Bản khó có thể đáp ứng được. Theo số liệu của Chính phủ, chỉ có chưa đến 9% doanh nghiệp trên toàn quốc đạt được yêu cầu về vốn. Chính phủ cho biết những thay đổi này nhắm vào những đối tượng xấu thành lập các doanh nghiệp giả mạo để có được visa quản lý doanh nghiệp và cư trú tại nước này.

Mặc dù những người sở hữu thị thực quản lý doanh nghiệp có thời gian ân hạn 3 năm để đáp ứng các điều kiện mới, nhưng một số doanh nghiệp đang hoạt động ổn định lo ngại rằng họ sẽ không kịp trở tay. Trong đó có ông Manish Kumar, chủ một nhà hàng Ấn Độ 56 tuổi đã sống tại Nhật Bản suốt 30 năm. Tháng 4 vừa qua nhà hàng mà ông điều hành 18 năm đã phải đóng cửa, khi nhận thông báo rằng visa quản lý kinh doanh của ông không được gia hạn nữa, bất chấp thời gian ân hạn. Cuộc sống của cả gia đình, vợ và hai người con sinh ra và lớn lên ở Nhật đột nhiên bị đảo lộn vì chính sách thay đổi. Hy vọng duy nhất của ông là xin được visa lao động và giao lại công việc kinh doanh cho một người bạn Nhật, người này sẽ thuê lại ông để cả gia đình có thể ở lại đất nước mình đã gắn bó lâu dài.

Ông Kazuki Yuda, một cố vấn về các thủ tục hành chính cảnh báo rằng các biện pháp siết chặt quy định như vậy đang gây ảnh hưởng đến cả “các chủ nhà hàng nhỏ” và “doanh nhân trẻ”. Hơn 67.800 người đã ký vào bản kiến nghị kêu gọi Chính phủ đình chỉ các quy định mới.

Những thay đổi này đã buộc nhiều người phải từ bỏ kế hoạch kinh doanh tại Nhật Bản. Theo dữ liệu của Cơ quan Dịch vụ nhập cư (ISA), số lượng đơn xin visa đã giảm 96% sau khi Chính phủ đưa ra các yêu cầu mới. Nghị sĩ Kimi Onoda, Bộ trưởng An ninh kinh tế kiêm Bộ trưởng đặc trách thúc đẩy xã hội cùng chung sống trật tự với người nước ngoài, người đứng đầu chính sách nhập cư của Nhật Bản cho biết, cải cách visa quản lý doanh nghiệp đang hoạt động như dự định.

57-3.jpg
Khách nước ngoài ở phố mua sắm Nakamise (Tokyo).

Chính sách hai mức giá và mục tiêu đầy tham vọng

Nhật Bản đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng nhằm tiếp tục gia tăng lượng khách quốc tế và doanh thu từ du lịch, song các mục tiêu này lại được đưa ra trong bối cảnh ngày càng có nhiều lo ngại về tình trạng quá tải du lịch. Những vấn đề này bao gồm sự ùn tắc tại các địa điểm như Tokyo và Kyoto, tình trạng xả rác bừa bãi, các hành vi thiếu văn minh, cũng như chi phí bảo trì gia tăng tại các di tích lịch sử.

Kyoto là thí dụ điển hình cho tình trạng quá tải du lịch. Người dân địa phương thường xuyên phàn nàn về cảnh ùn tắc và việc không thể lên được xe buýt do đã chật kín khách du lịch nước ngoài. Để giải quyết vấn đề này, thành phố đang cân nhắc tăng giá vé xe buýt đối với những người không cư trú tại địa phương, áp dụng cho cả người Nhật Bản lẫn người nước ngoài. Đây là thông lệ đã có từ lâu tại các khu vực khác của Nhật Bản, chẳng hạn như đối với các chuyến phà đi đến những hòn đảo xa xôi. Hay tại vùng núi Nagano, việc áp dụng mức phí cao hơn đối với người không cư trú khi mua vé trượt tuyết hay sử dụng dịch vụ suối nước nóng (onsen) là điều khá phổ biến.

Ở những nơi khác, Cơ quan Văn hóa Nhật Bản đã quyết định áp dụng mức giá vé cao hơn đối với du khách nước ngoài tại các bảo tàng và phòng trưng bày nghệ thuật do nhà nước quản lý. Chính sách hai mức giá được coi là một trong những chiến lược để hạn chế khách du lịch.

Nhật Bản cũng tăng gấp ba lần thuế xuất cảnh đối với mọi du khách lên mức 3.000 yên đồng thời phí thị thực nhập cảnh một lần và nhiều lần tăng gấp năm lần lên 15.000 và 30.000 yên. Việc siết chặt các quy định diễn ra sau khi Bộ Tư pháp công bố kế hoạch “không còn người nước ngoài cư trú bất hợp pháp” vào tháng 5/2025 nhằm giải quyết những lo ngại của người dân trước tình trạng người nước ngoài ở Nhật Bản đạt mức cao nhất từ trước tới nay.

Theo Tổ chức du lịch quốc gia Nhật Bản, số du khách nước ngoài đến Nhật đã đạt mức kỷ lục hơn 42 triệu lượt khách vào năm ngoái. Chính phủ đặt mục tiêu sẽ thu hút 60 triệu lượt khách vào năm 2030. Chi tiêu của du khách nước ngoài tăng 16% trong năm 2025, đạt mức kỷ lục 9,5 nghìn tỷ yên (59 tỷ USD). GS Kobayashi thừa nhận: Trong khi cư dân của các điểm đến du lịch có thể chịu thiệt hại do tình trạng quá tải, ngành du lịch lại được hưởng lợi. Tuy nhiên bất chấp mức chi tiêu kỷ lục, một số địa phương vẫn siết chặt việc kiểm soát du khách, hủy bỏ các sự kiện lớn như Lễ hội hoa anh đào Fujiyoshida hoặc cấm khách du lịch đến một số khu vực của Kyoto.

Phần lớn nguồn thu từ việc tăng thuế xuất cảnh và phí thị thực được dành cho các biện pháp giảm thiểu tình trạng xả rác bừa bãi cũng như các hành vi thiếu ý thức gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng bị nhiều người dân phàn nàn.